Tài liệu tham khảo cuộc thi tìm hiểu kỷ niệm 60 năm ngày Tập kết chuyển quân tại Cao Lãnh (1954 - 2014)

Đăng lúc: Thứ ba - 17/06/2014 03:43 - Người đăng bài viết: Huynh Chau Yen
1. THI HÀNH HIỆP ĐỊNH GENÈVE
Trần Văn Trà
 
Từ giữa tháng 8 năm 1954, chiến trường đã im tiếng súng khi lệnh ngừng bắn theo Hiệp định Genève quy định đã có hiệu lực. Thật là tuyệt diệu kỷ luật tự giác của những người cách mạng.
Khi hoà bình chưa đến, khắp rừng sâu, bưng lầy hẻo lánh, khắp làng mạc phố phường, từng chiến sĩ du kích, từng đơn vị vũ trang lớn, nhỏ đang thừa thắng xông lên diệt địch, khí thế bừng bừng sông núi, tiếng kèn xung trận vang lừng; có đêm hạ hàng tá đồn bót giặc, có ngày diệt và rã 2 - 3 tiểu đoàn địch; vùng giải phóng mở rộng thênh thang, cờ đỏ sao vàng Việt Minh tung bay tứ phía; nhân dân vui mừng nô nức đi dân công tế tiếp, các má các chị đi uỷ lạo bộ đội và săn sóc thương binh; quân địch thì khiếp vía kinh hồn, bị diệt ít mà chạy và rã nhiều.
Nhưng đúng ngày giờ quy định ngừng bắn thì chiến trận mọi nơi ngừng hẳn. Bầu trời bỗng nhiên êm ả lạ lùng. Người trong cuộc như vừa tỉnh một giấc mơ, như ngỡ ngàng trước cảnh thanh bình vụt đến khiến ta chưa kịp nghĩ rồi đây cuộc sống sẽ thế nào, trong lúc tâm tư người chiến sĩ còn đang hướng tới những chiến thắng đang chờ họ.
Sao lại ngừng tấn công nhỉ? Ta đang thắng lợi kia mà? Sức ta còn đủ để nỗ lực thừa thắng xông lên giải phóng hoàn toàn Tổ quốc thân yêu. Thời cơ này hết sức thuận lợi sao ta không nắm lấy mà ngừng lại nửa chừng? Và vì sao lại vĩ tuyến 17 mà không 13 hay ít hơn 16? Mừng vui thật sự vì hoà bình đang đến. Đất nước rồi đây độc lập, dân ta tự do xây dựng hạnh phúc lâu dài.
Những ấm ức trong lòng rằng ta bị thiệt thòi, kết quả đạt được của Hiệp định Genève chưa tương xứng với thắng lợi của ta! Nhưng niềm tin tưởng to lớn vào Đảng, Bác Hồ đã giúp chúng tôi giải đáp. Chẳng qua ta chưa hiểu hết ngọn nguồn, phải đâu chỉ có chiến trường ta mà còn tình hình cả nước và tình hình quốc tế vô cùng phức tạp nữa chứ.
 Thế là những ngày tháng Tám còn lại rộn rịp hành quân từ mọi ngả tập trung về các khu được hiệp định quy định để rồi tập kết ra miền Bắc. Nam Bộ vào thời kỳ cuối cuộc chiến tranh chống Pháp chia ra làm hai phân liên khu: miền Đông và miền Tây.
Các đồng chí trong Đảng uỷ và Bộ Tư Lệnh Phân Liên khu miền Đông Nam Bộ được Trung ương và Trung ương Cục chỉ định mỗi người phụ trách một công việc: anh Phạm Hùng - Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư, Chính uỷ Phân Liên khu miền Đông, người nhiều tuổi nhất trong chúng tôi, cùng anh Nguyễn Văn Vịnh - Phó Tư lệnh, đảm nhận Trưởng và Phó Tiểu ban Liên hợp lãnh thổ phía Nam đóng ở Phụng Hiệp (Cần Thơ), sau dời về Sài Gòn - Gia Định. Anh Hoàng Dư Khương (Hoàng Xang), Phó Bí thư Đảng uỷ, lãnh đạo các bộ phận ở lại và phong trào quần chúng đấu tranh thi hành hiệp định.
  Còn tôi, Tư lệnh, phụ trách tổ chức và chỉ huy các lực lượng vũ trang tập kết ra miền Bắc. Chúng tôi chia tay nhau hết sức cảm động tại khu rừng căn cứ Dương Ninh. Không phải cảnh mưa dầm dề lê thê cuối mùa trong những ngày ấy làm nẫu lòng người mà chính lòng người, tình đồng chí thân yêu, vui buồn lẫn lộn trong cảnh chia tay bắt buộc đã khiến cảnh trời có phần u ám.
Hôm nay chia tay để ngày mai gặp lại trong cảnh huy hoàng của Tổ quốc thân yêu, chỉ có lòng tin sắt đá ấy mới gạt mọi ưu tư. Mới hôm qua vừa ngừng tiếng súng anh đã mơ về xóm ấp quê hương. Người Việt Nam nào lại không gắn bó tình cảm của mình với bà con làng mạc, một cảnh cụ thể của Tổ quốc bao la, vì tình cảm ấy mà quyết tâm ra đi chiến đấu đến thắng lợi mới trở về.
Thế mà nay thắng lợi rồi thì được lệnh chuyển quân tập kết về miền Bắc xa xôi, cách trở cả nghìn cây số. Đành rằng miền Bắc, miền Nam vẫn là Tổ quốc của ta, vì Tổ quốc thống nhất ấy mà ta sẵn sàng hy sinh cả tính mạng. Những bụi trúc, bờ tre, con kênh, cụm chuối, mẹ già, vợ trẻ, cô bác bên nhà, em trai, cháu gái vẫn là hình ảnh sao mà thân thương, sao mà bịn rịn.
Đi hay ở? Lòng anh chiến sĩ thật bâng khuâng xao xuyến. Có đêm nào trong những đêm đang chiến đấu mà nằm trăn trở suốt năm canh vì chuyện ở hay đi như những đêm này. Đi hay ở?
Biết bao gia đình chia năm xẻ bảy. Những chuyện như vậy là phổ biến. Không phải chỉ phổ biến với những người miền Nam tập kết mà có lẽ cả với người miền Bắc bị dụ dỗ và lừa gạt vào Nam. Và vì vậy mà “hai năm” đã trở thành nỗi mong chờ của hàng triệu trái tim Việt Nam thời ấy.
Cấp trên đã phổ biến cặn kẽ kế hoạch ai đi, ai ở. Đi hay ở không còn chỉ có cái nghĩa thông thường là ở lại và ra đi. Nó là nhiệm vụ thiêng liêng được giao cho mỗi cán bộ, chiến sĩ.
Ta đã ký Hiệp định Genève, ta làm đúng theo quy định: bộ đội chiến đấu phải đi tập kết, người kháng chiến khác ở lại sống như dân thường dù người ấy là đảng viên hay đoàn viên nông hội. Ta sẽ gặp lại sum vầy sau hai năm, sau tổng tuyển cử. Gần chín năm trời xa nhà đi chiến đấu còn được, hai năm đâu có sá gì.
Thế là khắp các làng xã thuộc huyện Cao Lãnh, nhà cửa dọc các sông rạch từ Mỹ An, Ba Sao ra Hoà An, Cao Lãnh, từ Phong Mỹ về An Bình, Mỹ Thọ, đâu đâu cũng có “bộ đội của mình”. Và nữa, có phải chỉ có bộ đội hành quân tập kết đâu.
Đồng bào từ khắp chốn, từ những làng mạc xa xôi, từ các thị xã, thị trấn, cả ở Sài Gòn xuống và Cần Thơ lên cùng kéo về Đồng Tháp Mười, về Cao Lãnh hoặc Cà Mau để tìm đứa con, người em, người cháu đã ra đi từ ngày nào và giờ đây lại sắp đi xa. Còn các má chiến sĩ nữa, các má cũng đổ về Đồng Tháp Mười để tiễn đưa các con bộ đội đi ra Thủ đô, đi gặp cụ Hồ.
Cán bộ chiến sĩ trước khi ra Bắc cũng muốn lưu lại cái gì đối với địa phương thân yêu: sửa lại ngôi nhà cho đồng bào, dựng một mái trường cho các em nhỏ, bắc cầu, sửa đường… nghĩa là cái gì đó có ích cho dân là làm.
Và cũng không thể quên những đồng đội ngã xuống giờ đây hẳn cũng mỉm cười nơi chín suối. Họ cố xây nên một đài liệt sĩ “Tổ quốc ghi công” để nhớ ơn người đã hy sinh vì nghĩa cả. Nghĩ đến Bác Hồ vĩ đại, họ đã ra công xây lại ngôi mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sanh Huy, người đã sinh ra một anh hùng dân tộc cho đất nước đứng lên.
Tôi đi chuyến tàu chót ở bến Cao Lãnh thuộc khu 100 ngày Đồng Tháp Mười, đúng ngày cuối cùng của tháng Mười, như quy định của hiệp định. Mọi người xuống chiếc tàu đổ bộ của Pháp, tàu LCM há mồm, để ra Vũng Tàu, tại đây chuyển sang tàu Kilinxki của nước bạn Ba Lan đợi sẵn.
Chiếc LCM rời bến Cao Lãnh về chiều. Trên bờ, trên bến đông nghẹt những người, những câu từ giã gào lên bốn phía. Muôn ngàn cánh tay giơ lên chìa ra hai ngón, hai ngón từ trên bờ, hai ngón dưới tàu, tất cả cùng cảm thông sâu sắc.
Bờ biển Vũng Tàu đã nối liền với bãi Sầm Sơn qua biển Đông dậy sóng. Con đường đã đưa ta ra miền Bắc hôm nay, mai sau có đưa ta trở lại miền Nam?
 
2. TRONG PHÁI ĐOÀN LIÊN HIỆP HAI BÊN Ở CAO LÃNH
Huỳnh Văn Một
 
Tôi được công điện của Phân liên khu chỉ định là Trưởng phái đoàn Ủy ban Liên hiệp đình chiến của Quân đội Nhân dân Việt Nam khu vực Đồng Tháp Mười cùng hai ủy viên là Nguyễn Văn Công và Nguyễn Văn Minh, Tỉnh đội Mỹ Tho.
Thời gian qui định quá gấp tôi vừa đi vừa chuẩn bị tập hợp tất cả tại Mỹ Tho: phiên dịch, chuyên viên quân sự, chính trị, thơ ký, đánh máy, bảo vệ, anh nuôi, tìm cho mỗi người một bộ quân phục kiểu “đại quân”, nón dép đều giống nhau. Tuy trễ 3 ngày vì đường xa, phải chèo thật cật lực mới tới Tỉnh đội Long Châu Sa.
Đồng chí Nguyễn Như Văn, Tỉnh đội trưởng đã cho dọn dẹp Nhà hội Mỹ Trà trước. Đã 8 giờ ngày 3-8-1954, sợ trễ hẹn, đồng chí Văn cho kêu mấy chiếc xe lôi để đi cho kịp. Vừa đến Nhà hội Mỹ Trà (nơi họp phiên đầu tiên) thì chiếc tàu của phái đoàn Liên hiệp Pháp cũng đến bên ngoài chợ Cao Lãnh. Chúng tôi được biết trước một trung tá tham mưu trưởng Region Sài Gòn – Chợ Lớn làm trưởng đoàn, đi theo có hai Tỉnh trưởng Mỹ Tho, Gò Công và một quan hai người Việt, một tên đội mang hai dòng máu Việt Pháp làm phiên dịch. Vào Nhà việc  Mỹ Trà, phái đoàn Quân đội Nhân dân Việt Nam đứng trên cầu thang Nhà hội đưa tay tiếp xúc từng người, mời chỉ chỗ ngồi. Trung tá trưởng phái đoàn Liên hiệp Pháp vô đến cứ xớ rớ chưa dám ngồi ghế Chủ tịch, tôi trở lại mời ông ta mới dám ngồi.
Tôi đứng dậy giới thiệu phái đoàn ta rồi mời bên phái đoàn Pháp tự giới thiệu; xong tôi tuyên bố khai mạc. Thủ tục xong ngồi xuống, tôi đọc bản thảo chương trình nghị sự, mời bên Liên hiệp Pháp có ý kiến đưa vào. Đồng chí Thượng Nam phiên dịch ra tiếng Pháp, Phái đoàn Liên hiệp Pháp khen ngợi rất đầy đủ nên không có ý kiến gì.
Hôm đó chỉ bàn xung quanh mấy vấn đề: Hình thức thủ tục, lề lối làm việc và thời dụng biểu hội nghị hàng ngày.
- Về hình thức: Bàn hội nghị dài 6 thước, mỗi phái đoàn cùng nhau ngồi một phía, hai ghế đầu là hai chủ tịch của phái đoàn. Phái đoàn nào cũng giới thiệu các ủy viên của phái đoàn mình và số chuyên viên được dự. Hàng ngày, ghế nào vắng mặt ghế đó bỏ trống, nếu có người thay phải có Ủy ban Liên hiệp cấp trên báo trước.
- Về lề lối làm việc: Ngày nào họp xong vấn đề gì thì có biên bản về vấn đề đó, có hai chủ tịch phái đoàn ký tên thông báo công khai, mỗi đoàn giữ một bản chịu trách nhiệm thi hành.
- Thời dụng biểu: Mỗi ngày đúng 9 giờ hai phái đoàn có mặt tại bàn hội nghị làm việc đến 11 giờ - chiều 13 giờ đến 16 giờ. Buổi chiều có 15 phút xã hơi.
Riêng phái đoàn ta sau giờ nghỉ buổi chiều (16 giờ), lấy biên bản kết quả phiên họp hàng ngày báo cáo trước quần chúng nhân dân. Ngày nào cũng vậy, nhân dân bốn phương đến xem đông như hội chợ từ 9 giờ sáng đến 17 giờ chiều, mỗi lúc càng đông, ngày sau đông hơn ngày trước. Xung quanh Nhà hội Mỹ Trà người chật như nêm. Ngoài chợ, trên đường Cao Lãnh người người lớp lớp tới xem. Đồng bào theo dõi từng lời phát biểu của phái đoàn ta, đồng bào vỗ tay, nói lớn công khai: “Đúng quá, ta chính nghĩa nói gì cũng đúng, họ chịu ngồi nói chuyện với ta là họ thua, không vớt được “ăn năng” đâu. Bên phái đoàn Liên hiệp Pháp hai tỉnh trưởng mũi xẹp nghe lời bàn tán của nhân dân mặt tái, gầm đầu xuống, đi lủi thủi buồn xo. Hai tỉnh trưởng và hai trung úy suốt gần 20 lần họp không thấy nói một lời. Phái đoàn Liên hiệp Pháp chỉ đưa ra một vấn đề vào chương trình nghị sự “yêu cầu can thiệp với con nít chợ chọi đá chúng tôi”.
Số là hôm trước hết giờ hội nghị, phái đoàn Liên hiệp Pháp kéo ra về đi ngang qua chợ có các thiếu nhi chơi đùa ở đó lượm đá chọi qua lại với nhau như đánh trận giả, các cháu gọi đây là trận Việt Minh đánh Pháp, các cháu chọi càng hăng, cứ chọi mãi làm cho phái đoàn Liên hiệp Pháp bực mình, hôm sau họ đưa ra đề nghị yêu cầu phái đoàn ta giải quyết. Phiên họp này phái đoàn ta cũng đưa ra mấy vấn đề:
Quân đội Liên hiệp Pháp vi phạm Hiệp định đình chiến: Quân đội Hòa Hảo trong Liên hiệp Pháp khủng bố bắt đánh nhân dân ta tại Lai Vung (Sa Đéc) và Tân Châu tỉnh Châu Đốc lúc dân đang họp mit-tinh hoan hô Hiệp định đình chiến.
Phái đoàn Liên hiệp Pháp phát biểu không nhìn nhận hai quân đội Hòa Hảo và Cao Đài trong Liên hiệp Pháp và nói: “Hai quân đội đó là thứ không có tổ chức kỷ luật, chỉ huy của họ hầu hết là lưu manh, họ có phối hợp tác chiến với quân đội Liên hiệp Pháp, nhưng người Pháp không có cố vấn và huấn luyện quân đội này”.
Thay mặt phái đoàn ta, tôi vạch rõ: Người sinh đẻ ra hai thứ quân đội đó, trang bị, cấp phát, điều động đóng quân nơi này nơi khác, khủng bố bắn giết nhân dân, gom người bắt lính chính là phía Pháp, không thể nào chối cãi được. Cuối cùng, Trưởng phái đoàn Liên hiệp Pháp chịu nhìn nhận, hứa về ra lịnh cho hai quân đội trên chấm dứt hành động vi phạm nói trên.
Đến vấn đề các cháu thiếu nhi Cao Lãnh chọi đá đuổi phái đoàn Liên hiệp Pháp, tôi cũng giải thích cho phái đoàn Pháp hiểu rằng: “Thị trấn Cao Lãnh là nơi quân đội Liên hiệp Pháp chiếm đóng từ lâu. Phái đoàn nhân dân Việt Nam rất tiếc, quân đội Liên hiệp Pháp rút đi mấy ngày mà ở đây trẻ em có hành động như vậy đó là hậu quả của quân đội Liên hiệp Pháp để lại. Người dân ở đâu cũng vậy, khi trong lòng càng uất ức, căm hờn, nếu tiếng nói hay việc làm tự do của họ được đảm bảo ai dại gì mà chẳng nói chẳng làm. Ở đây trẻ em còn nhỏ chưa biết gì mà hành động như thế để vơi hết uất hận từ lâu. Dầu sao chúng tôi cũng thông báo cho địa phương giáo dục cho các em, chúng tôi hứa chắc chắn thời gian chúng tôi còn tập kết ở vùng này nhất định ở đây trẻ em không còn làm như vậy nữa mà các em ấy ngoan hơn, quí ông cứ yên tâm”.
Hôm đó phái đoàn ta bàn nhau chiều nay cho nghỉ xả hơi kéo dài hơn nửa tiếng đồng hồ để có thời giờ làm quen, tranh thủ cá nhân. Đến giờ nghỉ xả hơi, tôi định nói chuyện với hai tỉnh trưởng, vì biết có Tỉnh trưởng Gò Công hôm mới đình chiến đã đàn áp cuộc biểu tình của nhân dân Gò Công tổ chức để “hoan hô Hiệp định hòa bình”.
Tôi hỏi:
- Thưa ông, ông có phải là Tỉnh trưởng Gò Công?        Ông ta trả lời:
- Dạ dạ, em tên Kiên, mới đổi đến Gò Công thay thế ông Kiến đổi đi nơi khác.
Kiên hỏi tôi:
- Thưa ngài, chắc ngài có đi Trung Quốc hay Liên Xô?
Tôi trả lời:
- Tôi là người làm ruộng xứ này từ nhỏ đến giờ, chưa biết đến nước nào cả.
Tên Tỉnh trưởng hỏi tiếp:
- Sao quân sự, chính trị môn nào ông cũng thông? Chúng tôi làm cái gì chỉ biết cái đó.
Tôi nói tiếp:
- Vì thiết tha muốn một nền độc lập thật sự cho nước nhà, quyết định đuổi cho được giặc Tây, chúng đè đầu cưỡi cổ dân ta gần trăm năm rồi, nên làm đến đâu học đến đó, học trong việc làm thực tế các ông mới thấy đúng sai, ai dại gì mà cứ làm sai mãi mà không tìm cho ra cái đúng mà làm, đó là bài học quí nhất in sâu vào trí óc không quên.
Hai tỉnh trưởng trầm ngâm không nói gì nữa.
Tôi ngồi ghế đôn, gác chân tréo nói chuyện với hai tỉnh trưởng, Kiên tay bợ chiếc dép râu dưới bàn chân tôi vuốt vuốt, hắn nói:
- Cha chả, đôi dép tiện và đẹp quá!
Đến giờ tất cả vào trong bàn họp, đến mục phê bình hội nghị hôm nay, tôi nói: “Mời phái đoàn Liên hiệp Pháp phát biểu”.
Trưởng đoàn Liên hiệp Pháp đứng dậy, phát biểu có nhiều điều chân thật, tỏ ra cũng quá chán chế độ đế quốc đi xâm lược và cũng có ẩn ý oán ghét chiến tranh phi nghĩa và kính phục ta vô điều kiện. Ông ta nói:
- Gần hơn nửa tháng nay tôi làm việc với quí ông, chúng tôi coi quí ông như người cấp trên của chúng tôi vậy. Quí ông cần xe, chúng tôi chạy có xe, cần máy bay, cần tàu chúng tôi lo có đủ. Nay đến lực lượng Cao Đài, Hòa Hảo, chúng tôi thấy khó thật, vì chỉ huy của họ hầu hết là người không biết điều, họ không có tổ chức kỷ luật. Hứa với quí ông, chúng tôi về báo cáo lại cấp trên của chúng tôi, phải có biện pháp cứng rắn hơn đối với họ mới được. Và sau đây chúng tôi rất buồn và xấu hổ với quí ông là Hiệp định Genève từ điều, từ tiết các ông rất thông thạo. Chúng tôi chỉ nghe mấy chữ “Hiệp định” sự thật bản Hiệp định chúng tôi chưa được xem. Hơn tháng nay chúng tôi biết được mấy điều trong Hiệp định đình chiến là chúng tôi làm theo mấy ông thôi.
Trưởng phái đoàn Liên hiệp Pháp ký với phái đoàn ta biên bản hội nghị phiên này, ngày sau bị bọn thực dân Pháp điều động đi luôn. Từ đó chúng tôi không nghe tin tức gì ông này nữa, mà quan ba Chef Seateur Cần Thơ có giấy giới thiệu tạm thay quyền.
Sau phiên họp thứ 20 đó, tôi được điện Phân liên khu phổ biến thư của anh Ba Lê Duẩn rút tôi về xây dựng căn cứ cho xứ ủy hoạt động bí mật. Trên cử đồng chí Nguyễn Văn Công và Nguyễn Văn Minh, Chánh trị viên Tỉnh đội Mỹ Tho lên thay trong Ủy ban Liên hiệp đình chiến khu vực Đồng Tháp Mười.
Cũng sau phiên họp thứ 20, bên Liên hiệp Pháp đề nghị dời điểm họp về Cái Chuối, huyện Cai Lậy. Họ hứa làm trụ sở hội nghị và nhà ở cho anh em ta.
Hai hôm sau, phiên họp thứ 21. Pháp đưa phái đoàn ta vô hai cái nhà bạt trên bờ kinh 12, cách đó hai cây số mới có nhà dân. Phía bên phải bờ kinh có hai cái chòi nhỏ của dân mới về dọn đất làm ruộng. Phái đoàn ta bám hai cái chòi này để ở. Biết ý đồ bọn Pháp sợ ta ở và họp nơi đông dân sẽ gây ảnh hưởng chánh trị tốt cho cách mạng. Đến phiên họp sau, ta không chịu hội nghị ở đây mà đòi ra chợ Cái Chuối. Tới chợ Cái Chuối thật sự chỉ có ba căn nhà nhỏ của vợ con lính mới đến ở. (Chợ nầy trước kia do con cháu Đốc phủ Trần Bá Lộc lập ra để bán hàng cho số ít tá điền của họ. Nhưng tới khi Pháp đến đóng đồn P.C[1] ở đây thì đồng bào tản cư hết). Gần đó có một ngôi chùa Phật và bên cạnh có căn nhà nhỏ chứa đồ đạc, bàn ghế... Phái đoàn ta hỏi mượn căn nhà đó để làm điểm hội nghị chớ không ở đó. Vị Hòa thượng chấp thuận với thái độ rất nhiệt tình. Mỗi ngày đến giờ hội nghị, phái đoàn Liên hiệp Pháp cho bót P.C. Cái Chuối đưa lính ra gác các nẻo đường không cho bất cứ ai đến gần nơi họp. Tên Pháp, quyền trưởng phái đoàn Liên hiệp Pháp cứ lố mắt, tỏ thái độ rất ghét vị Hòa thượng và mấy nhà sư vì chăm chú lắng nghe lời lẽ qua lại của hai phái đoàn.         Cùng lúc này, Ủy ban Liên hiệp đình chiến Nam Bộ đóng ở Phụng Hiệp (Cần Thơ)./.

3. BAN BIÊN TẬP ĐANG TÌM TÀI LIỆU
4. TẬP KẾT Ở CAO LÃNH
          Trần Bảo Hương
 
1/- Tình hình chiến trường khi hiệp định Genève được ký kết và thời điểm ngưng bắn có hiệu lực.
Đầu tháng 7 năm 1954, tôi được phân công tham gia chiến dịch Phú Châu với nhiệm vụ chính là quản lý chiến lợi phẩm và kết hợp công tác dân vận giải thích chính sách của Đảng và Nhà nước với nhân dân vùng địch tạm chiếm hiểu. Chiến dịch này thuộc các xã ở hữu ngạn sông Tiền của huyện Phú Châu. Trong đợt này, ngoài việc triệt phá một số đồn bót của địch, ta có bắt được một trung đội trưởng quân Hòa Hảo. Tên này bị thương ở đùi. Khi bắt hắn ta có thu một khẩu súng, một đôi giày, một đồng hồ đeo tay, cái quần dài của y do một chiến sỹ của ta lấy mặc. Ban chỉ huy chiến dịch sau khi nắm tình hình biết được y là em ruột của tên đại đội Tươi, một tên chỉ huy nổi tiếng của quân Hòa Hảo ở vùng này nên  quyết định thả y bằng cách  vận động người dân nơi đây lấy xuồng đưa y về chợ Tân Châu giao cho Hòa Hảo để thể hiện chính sách nhân đạo của ta. Kiểm tra tư trang trước khí đưa y đi, tôi đưa chiếc đồng hồ và báo cáo đôi giày tôi đã chuyển về hậu cứ, còn chiếc quần thì không thấy đâu, mọi người đi tìm và phát hiện một chiến sĩ ta đang mặc, bảo cởi trả thì anh ta bảo là của anh ta, khi kiểm tra lỗ thủng chiếc quần đúng vào vị trí bị thương của tên tù binh, anh ta mới nhận. Rất may, nếu không thì không biết xử lý thế nào để có chiếc quần dài trả cho y. Trước đó khi y biết ta đang tìm chiếc quần cho y  thì y tỏ rất chân thành đề nghị không cần tìm nữa, được tha cho về là đội ơn lắm rồi. Trước khi chuyển xuống xuồng để về Tân Châu, y nhiều lần nói lời cám ơn Việt Minh và các vị chỉ huy chiến dịch. Sau này nghe người dân ở Tân Châu nói lại rằng khi y về Tân Châu kể lại cho gia đình và lính của Hòa Hảo nghe là từ khi y bị bắt đến khi được đưa về lại Tân Châu đều được đối xử rất nhân đạo thì gia đình y, những người lính của Hòa Hảo và nhân dân vùng địch tạm chiếm đều vui mừng và ca ngợi chính sách nhân đạo của Chính phủ ta. Đêm đưa tên lính Hòa Hảo về Tân Châu cũng là lúc lực lượng chiến dịch được chuyển về hậu cứ (xã Thường Phước, tả ngạn sông Tiền) để rút kinh nghiệm, chuẩn bị các mặt cho những trận tiếp theo. Khi lực lượng của chiến dịch chuẩn bị đầy đủ, chờ trời tối hẳn sẽ sang sông để tiếp tục các trận đánh tiếp theo thì được tin đình chiến mọi người đều sung sướng reo mừng hô vang “đình chiến rồi! Đình chiến rồi!”. Thế là chiến dịch đã kết thúc, tôi lại lên đường trở về đơn vị.
Về tới đơn vị, được biết tôi và một số bạn cùng lứa trong cơ quan được giao nhiệm vụ làm bất cứ việc gì mà các chú các bác trong ban tiếp quản Thị trấn Cao Lãnh yêu cầu. Lần đầu tiên tôi được giao nhiệm vụ: Sáng mai mang chiếc đèn măng-sông ra Cao Lãnh để các chú, các bác trong Ban tiếp quản làm việc ban đêm, vì trước khi rút Chính quyền Ngụy đã cố tình gây khó dễ để nhà đèn không hoạt động được hòng chứng minh những điều mà lâu nay chúng rêu rao rằng Việt Minh là “man rợ, dốt nát…là….”. Hôm ấy, sau buổi cơm chiều, mấy anh em mang chiếc đệm trải ở bờ sông ngồi nói chuyện. Vì quá phấn khởi, đứa này một chuyện, đứa kia một chuyện, không chuyện nào ra chuyện nào! Mãi đến khi nghe trên đường có tiếng kêu của gà, vịt với tiếng râm ran của các bà đi chợ mới hay trời đã sáng. Thế là chúng tôi vội vàng cuốn chiếc đệm mang vào cơ quan, sau đó tôi vào xách chiếc đèn măng-sông chuẩn bị sẵn từ chiều hôm qua mang ra Chợ Cao Lãnh giao cho các chú, các bác. Đây là lần đầu tiên tôi được biết chợ Cao Lãnh.
Lúc này Cao Lãnh coi như tạm giải phóng, cư dân có người rất phấn khởi, cũng có người vẫn còn nghi ngờ vì thấy cán bộ chiến sĩ ta không giống như Việt Minh mà bọn địch đã tuyên truyền nào là là ốm yếu xanh xao như ma, người thì đầy lông lá, thậm chí có người còn có đuôi. Lúc này lãnh đạo cho mở cửa nhà của thầy thuốc Lư mà đại đội 10 của quân Hòa Hảo chiếm làm trụ sở và giam cầm, tra tấn cán bộ, chiến sĩ ta và đồng bào yêu nước bị chúng bắt, còn lưu lại như vết máu ở vách, sàn nhà và những dụng cụ tra tấn còn để lại, nhất là hình người bị thiêu sống còn in trên nền nhà. Qua đó dân chúng thấy hành động tàn ác của giặc, những điều chúng tuyên truyền dân không còn tin nữa và càng thiện cảm hơn với cán bộ Việt Minh.
2/- Một trăm ngày quản lí Cao Lãnh.
Trong 100 ngày ngắn ngủi quản lý Cao Lãnh, Tỉnh uỷ và Uỷ ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Long Châu Sa hết sức bận rộn, vừa bàn chủ trương vừa chỉ đạo thực hiện nhiều việc quan trọng như: Sắp xếp bố trí người đi tập kết để đào tạo thành cán bộ quản lý khi nước nhà thống nhất, số nào ở lại làm nòng cốt lãnh đạo nhân dân đấu tranh buộc  địch thực hiện hiệp định đã ký kết.
- Khi ra Cao Lãnh, việc đầu tiên là đi xem mộ thân sinh Bác Hồ. Chủ trương của Tỉnh ủy và Ủy ban Kháng chiến Hành chính Tỉnh xây lại mộ cụ Phó bảng cho tươm tất, khi ta rút đi sẽ bàn giao cho Chính quyền Pháp, tạo lòng tin cho người dân với ngày thống nhất đất nước.
Việc xây mộ được giao cho Tiểu đoàn 311 thực hiện. Trong một thời gian rất ngắn, với sự nhiệt tình giúp đỡ của nhân dân xã Hòa An, ngôi mộ được xây dựng rất khang trang. Mộ xây xong, Lãnh đạo Tỉnh, đơn vị thi công cùng đông đảo bà con làm lễ Tạ mả theo phong tục. Trong thời gian ta quản lý thị trấn Cao Lãnh, hằng ngày có nhiều người đến thăm viếng.
- Công trình thứ hai ta xây để biểu thị sự hy sinh cao cả của anh hùng liệt sỹ hy sinh vì Tổ quốc luôn được Đảng, Nhà nước và nhân dân đời đời ghi nhớ đó là “Đài liệt sỹ”. Vị trí Đài liệt sỹ được đặt tại khoảng trống trước mặt nhà Mười chuyển, thuộc trung tâm Thị trấn Cao Lãnh, gần đầu cầu bên Mỹ Trà sang Hòa An nơi đông dân cư qua lại. Công trình này cũng do anh em trong Tiểu đoàn 311 thi công. Đài liệt sỹ được xây tô và trang trí rất chỉn chu tại vị trí khoáng đạt, tạo nên sự tôn nghiêm, người dân qua lại chiêm ngưỡng đài liệt sỹ với tấm lòng tôn kính.
- Nhà máy đèn, các chú bác lãnh đạo Tỉnh, đã điều động một bác cán bộ trước đây từng làm công cho nhà đèn thời Pháp thuộc về phụ trách với quyết tâm đảm bảo nhà máy vận hành không bị trục trặc. Một mặt, ta đấu tranh buộc Pháp phải đem trả lại máy phát điện chính bị chúng chở đi, một mặt cho người xuống Sa Đéc mua đầy đủ phụ tùng cần thiết để sửa chữa. Nhờ vậy 100 ngày quản lý Thị trấn Cao Lãnh nhà máy vẫn bảo đảm ánh sáng cho dân, nên bà con rất có thiện cảm, phấn khởi và tin tưởng.
Trong biên bản bàn giao Thị trấn Cao Lãnh cho Chính quyền Pháp đều có ghi tên ba công trình trên.
Một việc không thể thiếu là đổi tiền. Đây là việc mà lãnh đạo tỉnh rất quan tâm và chỉ đạo phải làm khẩn trương và chu đáo không để thiệt hại cho người dân ở vùng kháng chiến. Trong vùng kháng chiến thời ấy có hai loại tiền, một là tiền Đông Dương, một là tiền cụ Hồ. Việc đổi tiền khi ấy rất đơn giản, chỉ có cán bộ, nhân viên Ban Kinh tài Tỉnh phụ trách. Địa điểm là nhà dân vùng phụ cận Thị trấn Cao Lãnh mà cơ quan Ban Kinh tài ở nhờ. Công việc cũng hết sức thuận lợi, sau khi thông báo bà con lần lượt mang tiền đến đổi, không cần bất cứ thủ tục gì, khi dân nộp tiền cụ Hồ chúng tôi nhận bao nhiêu thì trao lại số tiền Đông Dương tương ứng, cứ được một số lượng nhất định thì ghi số liệu và hai người trong đó mang ra bờ sông trước nhà đốt hủy. Mọi công việc tiến hành rất thuận lợi, thời ấy lãnh đạo và nhân viên đều đồng tâm hiệp lực, hoàn toàn tin tưởng lẫn nhau, cụm từ “tham ô, hối lộ” không bao giờ xuất hiện trên văn bản cũng như trong sinh hoạt hằng ngày của cơ quan. Với tinh thần ấy, chỉ trong một tuần mọi việc được hoàn tất, nhân dân phấn khởi, anh em trong cơ quan thì tiếp tục công việc của mình, người nào được bố trí ở lại thì sẵn sàng để nhận nhiệm vụ mới, người nào đi tập kết thì chuẩn bị hành trang để đi, nhưng không ai có kinh nghệm, chỉ được thông báo bây giờ là mùa mưa bão, phải chuẩn bị lương khô và nước uống để dùng khi gặp bão tàu không cập bến được. Lương khô là gạo rang và bánh tổ, nước chỉ cần cái bình tong là được. Lương khô có các mẹ các chị chủ nhà giúp, bình tong cũng dễ tìm, mọi việc cho chuyến đi nhanh chóng hoàn tất.
3/- Tình cảm thân thương và cảm động.
Những ngày tập kết tại Cao Lãnh, cha mẹ, anh em từ Sài Gòn và các nơi khác về họp mặt, đoàn tụ rất đông vui. Tùy từng hoàn cảnh của mỗi gia đình mà có cảnh sum hợp khác nhau nhưng đều chung một ý nghĩ gia đình đoàn tụ đông vui và cầu mong người ra đi vui vẻ, mạnh khỏe, trở về đông đủ, người ở lại sát cánh cùng nhân dân đấu tranh buộc địch sau hai năm thực hiện tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Có gia đình thăm một lần, có nhiều gia đình thăm nhiều lần. Cơ quan tôi có một đồng chí, gia đình vào thăm lần đầu, nghĩ rằng người em ở bưng biền, nên ngoài các thứ như quần áo, quà bánh,… còn đóng cho đồng chí một đôi ủng da loại tốt để phòng rắn độc (vì gia đình có tiệm đóng giày ở Sài Gòn). Khi biết sẽ không còn cảnh như trong chiến tranh ở bưng biền, lần này lại cho anh một đôi giày loại tốt mà chúng tôi chưa bao giờ mơ đến.
Có gia đình một đồng chí bộ đội vào thăm. Tại đơn vị, sau khi tay bắt mặt mừng hỏi han đủ thứ, đại diện gia đình gặp Ban Chỉ huy đại đội đề nghị cho gia đình chiêu đãi toàn đại đội một bữa bánh hỏi thịt quay. Lãnh đạo đơn vị thấy đây là quan hệ tình cảm gia đình thân yêu vừa là tình cảm tiền tuyến hậu phương như Tố Hữu đã viết thành thơ: “Bầm thương con thương luôn đồng chí/Bầm quý con quý cả anh em”, nên lãnh đạo đơn vị vui vẻ nhận lời và cử người cùng gia đình đi mua 1 con heo quay, một thúng giạ bánh hỏi và gia vị cần thiết kèm theo để đơn vị vui liên hoan mừng những người con chiến thắng trở về.
Nhưng cũng có hoàn cảnh hết sức cảm động: một bà mẹ nghèo ở vùng kháng chiến đến thăm con trai, mang theo 15 đồng và ghé tai con nhỏ to rằng: “Má chỉ có 15 đồng, muốn mua cho con cái khăn choàng tắm để quấn cổ cho đỡ lạnh, lại muốn con có tiền xài như anh em, vậy con chọn, nếu lấy khăn thì má đi mua”. Người con rất thương mẹ, biết hoàn cảnh khó khăn của gia đình nên thưa với mẹ rằng: “Má cất đi để xài, con có đơn vị như anh em khác”. Người mẹ thì muốn cho con cái gì đó dù rất nhỏ, nhưng là tấm lòng của mẹ dành cho con, còn người con thì thương người mẹ nghèo dù biết rằng đó là tấm lòng của người mẹ dành cho mình nhưng không nhận và động viên mẹ rằng con còn có đơn như anh em khác. Cảnh hai mẹ con nghèo nọ ám ảnh tôi mãi, không biết ngày thống nhất hai mẹ con có được sum họp không!
Một hôm, một anh bạn cùng cơ quan với tôi, gặp tôi giữa phố reo lên: “Bảo Hương! Mấy hôm nay mình tìm cậu quá trời mà không thấy đâu, má mình ở Sài Gòn vô thăm, cho mình một ít đồ đạc và 2000 đồng, không thấy cậu đâu, mình xài gần hết, bây giờ chỉ còn lại mấy trăm đồng, tụi mình đi ăn hột vịt lộn uống lave”. Thế là chúng tôi cùng đi. Vào quán anh bạn móc mấy trăm đồng trong túi ra để trên bàn và nói còn bấy nhiêu xài hết thôi. Lúc nhỏ khi đi xem đá banh các anh tôi nhường cho một cắc (10 xu) để ăn hột vịt lộn nên quen còn lave chưa biết, nhưng thỉnh thoảng có uống rượu đế với khô cá lóc với mấy anh bạn là chiến sĩ đặc công của Tỉnh đội Long Châu Sa. Nay được ăn hột vịt lộn uống lave ngon quá, ăn nhiều đến mức hột vịt không kịp nguội, phải bỏ vào thùng nước đá cho mau nguội, ăn uống đã đời, tính lại tiền vẫn còn, nên mỗi người lấy một gói Côtáp cho hết tiền.
Một trăm ngày tại Cao Lãnh, chứng kiến nhiều cảnh hết sức cảm động: cha mẹ thương con thương cả anh em đồng chí của con. Cha mẹ gia đình hết lòng chăm sóc người con bao năm gian khổ trong chiến tranh. Bạn bè cũng gian khổ hết lòng với nhau khi có điều kiện tận hưởng niềm vui; người mẹ nghèo hết lòng với đứa con thân yêu, và tấm lòng hiếu thảo của con đối với người mẹ nghèo. Thật là một bức tranh tuyệt đẹp cho xã hội nhân văn thời đại mới.
4/- Cuộc mít tinh có một không hai.
Chủ trương của lãnh đạo Nam Bộ và tỉnh Long Châu Sa đã mua hơn 5 công lúa xạ đã ngang đầu gối để dựng lễ đài tổ chức mít tinh kỷ niệm ngày 2 tháng 9. Buổi chiều ngày 2 tháng 9 trời đổ cơn mưa rất to, nước ngập cả đám ruộng. Chiều tối nước rút, cuộc mít tinh tiến hành đúng kế hoạch. Lễ đài, và vòng quanh hàng rào được chiếu sáng bằng một số bóng đèn máy phát điện của Đài vô tuyến điện của tỉnh. Bác Sáu – thầy giáo Phan Văn Thà, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chánh tỉnh Sa Đéc, sau là Ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chánh tỉnh kiêm Trưởng ban Kinh tế Tài chính Long Châu Sa - đọc diễn văn.
Cuộc mít tinh về hình thức hết sức giản đơn nhưng hiệu quả vô cùng to lớn. Trên lễ đài không có chủ tịch đoàn, chỉ có một bóng đèn đủ để diễn giả đọc diễn văn. Một người trong Ban Tổ chức tuyên bố lý do cuộc mít tinh đồng thời giới thiệu thầy giáo Phan Văn Thà nguyên phó chủ tịch Tỉnh Sa Đéc, Uỷ viên Uỷ ban Kháng chiến tỉnh Long Châu Sa đọc diễn văn. Sau tiếng vỗ tay của hàng ngàn nhân dân thị trấn Cao Lãnh và nhân dân các xã lân cận, có cả một số người dân ở nơi khác đến. Thế là cuộc mít tinh bắt đầu. Khi thầy Thà đọc diễn văn, ở dưới hàng ngàn người dân đều im lặng lắng nghe. Do máy phát điện quá cũ nên thỉnh thoảng mất điện, cuộc mít tinh phải tạm ngưng, nhưng đồng bào vẫn hết sức nghiêm túc chờ tiếp tục.
Cuộc mít tinh rất uy nghiêm, lễ đài trang trí rất đơn sơ, ở sân khán giả càng đơn giản vì không có bất cứ chỗ ngồi nào, toàn bộ mọi người đều đứng nhìn về lễ đài để nghe những lời thiêng liêng về ngày quốc gia độc lập, một điều có lẽ là độc nhất vô nhị cả thế giới là những người dự mít tinh không chỉ đứng, mà đứng trên lớp bùn lút mắt cá hơn mấy tiếng đồng hồ, với lòng tự nguyện. Vì sau một trận mưa rất to, nước đã rút nhưng đất còn ướt, người vào dự mít tinh rất đông, giẫm qua giẫm lại nên mặt ruộng trở thành bãi bùn. Một điều có thể khó gặp trên thế giới là những người vừa trong buổi mít tinh ra, chân người nào cũng bị bùn bám đến mắt cá, bùn bắn đến áo, thậm chí cả trên mặt, nhưng trên mặt người nào cũng rạng ngời nụ cười đầy mãn nguyện. Tôi cùng anh Nhật bạn cùng cơ quan, là con ông Hội đồng Vị ở xã Tịnh Thới huyện Cao Lãnh đang đứng ở bờ ruộng vừa nói chuyện vừa quan sát những người dự mít tinh ra về vì anh Nhật đang chờ cô em gái trong số những người dự mít tinh. Bỗng một cô gái độ 17 tuổi mặt mày sáng sủa, đến chào hai chúng tôi. Anh Nhật liền giới thiệu: “Đây là Rạng Đông, em gái mình”. Rạng Đông vui vẻ cúi chào rồi dắt đứa cháu ra về. Còn lại hai chúng tôi, anh Nhật rất chân thật tận đáy lòng nói với tôi: “Các cậu (vì cùng lứa với Nhật ngoài tôi còn mấy người nữa) cậu nào hứa hôn với Rạng Đông đi, nếu không thì nó lấy lính Hòa Hảo thì buồn lắm”. Sau này cứ mỗi lần nhớ câu nói của Nhật, trước mắt lại hiện lên gương mặt trẻ trung xinh tươi, nhất là vài vết bùn nhỏ trên đôi má làm tăng thêm vẻ đẹp hồn nhiên và duyên dáng của cô gái vùng quê Cao Lãnh nổi tiếng khéo tay mến khách này. Rất tiếc lâu nay tôi không tìm được tin tức và người bạn thân tên Nhật này và cô em gái ngây thơ ngày trước tôi gặp.
5/- Bàn giao Cao Lãnh sau 100 ngày quản lý.
Theo hiệp định đình chiến, ngày 31 tháng 10 năm 1954, ta phải bàn giao khu tập kết 100 ngày tại Cao Lãnh cho Chính phủ Pháp. Sáng sớm xung quanh nhà Hội Mỹ Trà, đơn vị vũ trang cuối cùng của ta được bố trí chặt chẽ để báo về Phái đoàn của hai chính phủ. Cổng vào nhà Hội Mỹ Trà một bên do một chiến sỹ Quân đội Nhân dân Việt Nam trong bộ quân phục kháng chiến, chân mang dép cao su, đầu đội mũ có bọc vải và lưới để ngụy trang khi đánh giặc, nghiêm trang và thân thiện với người qua lại. Đối diện là một tên lính quen thuộc trong bộ quân phục mà dân thường gọi là lính Bảo Hoàng, còn gọi là Commanđô. Trong khi chờ đợi Phái đoàn của hai chính phủ vào nhà Hội Mỹ Trà để họp bàn giao, trước cổng vào nhà hội, lính gác hai bên vẫn đứng trước cổng, dân chúng qua lại bình thường, trẻ con hiếu kỳ đến xem. Khi chiến sĩ ta vui vẻ chào các em, các em cũng vui vẻ tiến gần các anh nói chuyện, càng về sau các em đến càng đông hơn. Không khí vui vẻ thể hiện tình cảm quân dân phát triển một cách hết sức tốt đẹp. Nhiều người dân đứng bên đối diện cổng nhà Hội Mỹ Trà nhìn sang đều thể hiện niềm vui trên khuôn mặt của mọi người. Đối diện là anh lính Bảo Hoàng cũng trang phục chỉnh tề cảm thấy lẻ loi nên vẫy gọi các em, nhưng các em đều lảng tránh, không em nào đến gần. Cảnh trước cổng nhà Hội Mỹ Trà tiếp diễn đến khi phái đoàn sắp vào nhà hội. Khoảng hơn 9 giờ ngày 30 tháng 10 năm 1954, chiếc máy bay trực thăng đáp xuống khoảng trống phía sau nhà hội Mỹ Trà trong sự bảo vệ của đơn vị quân đội bố trí quanh đó. Đoàn đại diện Chính phủ Pháp do một sỹ quan người Pháp dẫn đầu. Phái đoàn ta do một viên sỹ quan quân đội ta dẫn đầu. Thành phần cụ thể của cả hai Phái đoàn tôi không được biết, chỉ biết chú Châu Ngọc Huê là phó Văn phòng Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Tỉnh làm phiên dịch. Sau đó nghe chú Huê báo cáo lại với lãnh đạo là mọi việc đều suôn sẻ, trong biên bản bào giao có 3 công trình là: Nhà đèn được sửa chữa bảo đảm vận hành bình thường, và 2 công trình mới là Đài Liệt sỹ và Khu mộ cụ Phó bảng.
Sau khi bàn giao xong, chúng tôi rút ra phía ngoài cầu Cái Tôm để chuẩn bị sáng mai ra cầu Bắc Cao Lãnh xuống tàu ra Bắc. Hơn 19 giờ ngày hôm ấy tôi có quay lại Trung tâm chợ Cao Lãnh để mua trứng vịt. Quang cảnh lúc bấy giờ có thể gọi là rất đìu hiu vì không có nhà nào có đèn điện, ở trước cửa chỉ có đèn dầu nhỏ, cửa mở he hé. Tôi hỏi vì sao vắng thế, chủ nhà nói phần lớn là đã rút vô đồng hết rồi. Trên đường trở lại cầu Cái Tôm tôi đang nghĩ miên man về cảnh đìu hiu buổi tối tại Trung tâm Thị trấn, thì đoàn xe nhà binh Pháp chở lính vào tiếp quản Cao Lãnh, gầm rú vượt qua cầu Cái Tôm để lại mùi khét dầu mỡ của đoàn xe, khiến tôi nghĩ tới cảnh sống ngày mai của cán bộ và đồng bào dưới chế độ thực dân Pháp và chính phủ bù nhìn tay sai của chúng mà lòng tôi cảm giác bùi ngùi khó tả.
Sáng hôm sau, đơn vị tôi chuyển ra bến Bắc Cao Lãnh chuẩn bị xuống tàu chuyển quân. Đến cầu Bắc độ hơn 1 tiếng đồng hồ thì chiếc tàu đổ bộ LCT của quân đội Pháp đến đón chúng tôi. Đơn vị bộ đội và cán bộ cuối cùng chúng tôi nhanh chóng xuống tàu và tách bến. Tàu chạy xuôi. Không bao lâu sau thì rẽ vào Vàm Kỳ Hôn theo kênh Chợ Gạo thẳng ra cửa Cần Giờ. Đến cửa biển, có người chỉ vào chiếc tàu đậu ở phao số 0 và nói đó là chiếc tàu Linsinky của Ba Lan sang giúp ta chuyển chuyển quân ra miền Bắc. Chiếc LCT cập vào tàu Ba Lan, chúng tôi nhanh chóng sang tàu lớn. Tôi nhớ không rõ hình như hơn 3 ngày là ra tới Thanh Hóa. Tại bãi biển Sầm Sơn của tỉnh Thanh Hóa, chúng tôi được Đảng, Chính phủ và nhân dân tiếp đãi rất chu đáo, ấm áp tình cảm Bắc Nam một nhà./.

5. BỮA CƠM ĐƯỢC ĂN VỚI MẮM BỒ-HỐC
Nguyễn Văn Hinh
 
Tiểu đội tôi ngồi ngoài bìa đội hình đại đội 941 Tiểu đoàn 309 trên chiếc tàu của Pháp ký hiệu LCP mà chúng tôi quen gọi là tàu há mồn, chở đơn vị chúng tôi từ Cao Lãnh ra Ô-Cấp để lên tàu lớn tập kết ra miền Bắc. Ngồi kề bên ngoài tiểu đội tôi là tiểu đội Quân Giải phóng Ít-Xa-Rắc Campuchia.
Khi tàu rời bến một lúc thì người ngồi đầu của tiển đội Ít-Xa-Rắc quay sang tôi gợi chuyện. Anh cho biết, anh sinh ra ở tỉnh Soài Riêng giáp biên giới với Việt Nam. Anh nói được tiếng Việt, anh tự giới thiệu, tên anh là Thạch-On, chức vự tiểu đội trưởng. Anh hỏi tên và chức vụ của tôi, tôi cho biết, tôi tên là Hinh, chức vụ tiểu đội trưởng. Với giọng nói buồn buồn anh tâm sự, Hiệp định Genève phân vùng tập kết, Việt Nam có được từ Bắc vĩ tuyến 17 trở ra, Lào có 2 tỉnh để tập kết, Campuchia không có, mất hết. Mắt anh ngấn lệ. Tôi cầm tay anh Thạch-On an ủi: Thạch-On ạ, mình ra đi rồi mình sẽ về, cách mạng Campuchia sẽ không mất.
Tôi hỏi Thạch-On, sao các bạn đi tập kết ít vậy, anh cho biết, do Hiệp định Giơ-ne-vơ rằng buộc nên lực lượng các anh phải chia ra từng phân đội nhỏ hòa vào bộ đội Việt Nam đi thành nhiều chuyến, nhiều đường.
Chiều hôm ấy, hai tiểu đội chúng tôi nhất trí cùng ăn bữa cơm chung. Thức ăn bày ra, bên chúng tôi có đồ ăn hộp mua từ nội thành và có món tôm rang. Phía bạn có vài món phụ còn chủ yếu là món mắm bồ-hóc. Nói là ăn chung nhưng lúc đầu thì vẫn món ăn của ai người ấy gắp. Tôi tiên phong đưa đũa gắp món mắm bồ-hóc nhưng tôi vẫn lo lo không biết đưa vào miệng có nuốt được không, nhã ra thì phiền lắm. Tôi gắp một ít cho vào miệng nhấm nhấm sao ngon quá, quá ngon - khi tôi viết đến đây như lưỡi tôi còn vị ngon của mắm bồ-hóc ngày ấy. Thạch-On cho biết, mắm bồ-hóc ở các đô thị có thêm những gia vị nên có phần ngon hơn mắm bồ-hóc vùng quê.
Tối đêm ấy, trên tàu, đơn vị chúng tôi tổ chức văn nghệ. Lần đầu tiên tôi được thấy điệu múa dân tộc Campuchia, họ múa uyển chuyển, nhịp nhàng, đầu, mình, tay, chân đều khớp nhau trong một nhịp - không hề bị lỗi nhịp. Chúng tôi đồng vỗ tay hòa nhịp múa các bạn, tôi say sưa ngắm nhìn mà có lúc quên cả vỗ tay.
Cuộc vui đang sôi nổi, hào hứng thì một người lính phía bên kia đi đến nói, thưa quý ông, quan Pháp chỉ huy tàu yêu cầu quý ông không được múa hát dậm chân xuống sàn tàu làm rung động tàu không chạy được. Tôi nghĩ, bọn này nói xạo, hồi còn đánh nhau, súng chúng tao bắn đùng đùng vào hông tàu mà bọn mày còn tháo chạy được, chẳng qua bây giờ bị thua rồi trả thù vặt! Anh Minh (tôi quên họ của anh) tiểu đoàn bậc phó, chỉ huy trưởng khối tập kết trên tàu, ra hiệu giảm bớt, rồi anh đi gặp tên quan Pháp chủ tàu. Khi trở lại, anh Minh bảo cứ chơi đi. Mấy người lính Việt phía bên kia thấy chỉ huy nhượng bộ họ xáp vô xem chúng tôi múa hát. Tôi nhìn thấy trong số ấy có người khẽ vỗ tay. Tôi cảm thương thân phận của họ.
Ra đến Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa, điểm tập kết miền Bắc của đơn vị chúng tôi, tôi chia tay Thạch-On và các bạn Campuchia.
Năm 1969, tôi được điều động về làm giáo viên chính trị Trường Sĩ Quan pháo binh đóng ở tỉnh Sơn Tây (Trường 400 Sơn Tây), tôi gặp lại Thạch-On về học ở đây. Hai chúng tôi thường tâm sự những nhớ thương về Nam bộ, về Campuchia,về Cao Lãnh những ngày tập kết. Thạch-On kể lại rằng, vì để giữ bí mật, tiểu đội anh đến Cao Lãnh vào một buổi chiều và qua đêm, sáng hôm sau là xuống tàu tập kết, chỉ ít thời gian như vậy mà đã để lại trong anh nhiều tình cảm, gia đình tiếp đón các anh rất chu đáo từ nơi ở, nơi ăn, chỗ ngủ. Anh nhớ nhất là buổi sáng, trước khi các anh rời gia đình ra tàu đi tập kết, những bậc cha mẹ gọi các anh bằng con và nói lời đưa tiễn như chính đưa tiễn con ruột mình, giống như cha mẹ ở Campuchia đưa tiễn các anh vậy. Tôi hỏi vui, có định về lại Cao Lãnh không? Anh nói, về Campuchia còn chưa biết được nói chi về Cao Lãnh.
Rồi một ngày của năm 1970, Thạch-On gặp tôi để nói lời chia tay, anh cho biết, Lon-Non (Lonnol Thủ tướng Campuchia) được sự hậu thuẫn của Mỹ làm cuộc đảo chính lật đổ chế độ quân chủ Xi-Ha-Núc (Shihanouk), nội bộ giới cầm quyền xâu xé nhau, cách mạng Campuchia có thời cơ, cấp trên gọi lực lượng cách mạng Campuchia về nước. Anh nhắc lại lời tôi nói với anh trên chuyến tàu 1954: Mình ra đi rồi mình sẽ về, cách mạng Campuchia sẽ không mất. Anh nắm chặt tay tôi, một lần nữa tôi thấy mắt anh ngấn lệ.
Những dòng hồi ký này tôi viết vào tháng 10 năm 2012, vậy là đã qua 42 năm kể từ năm Thạch-On chia tay tôi đến nay, tôi không biết tin tức gì về anh, không biết anh còn hay mất. Tuy suy tưởng, nếu anh còn sống và biết được tỉnh Đồng Tháp phát động viết hồi ký lịch sử về Cao Lãnh những ngày đi tập kết thì “nhất định” Thạch-On sẽ gửi về Cao Lãnh những dòng kỷ niệm sâu sắc của mình.
Khoảng trời Cao Lãnh của tháng 10 năm 1954 đón nhận về đây bao nỗi nhớ, niềm thương, bao kỷ niệm lắng sâu trong tâm trí của những người con Nam Bộ ngày ra đi tập kết, mà còn có một góc trời thương nhớ tình quốc tế trong sáng Campuchia với Việt Nam./.
6. BÁC HAI NHÀ TÔI ĐÓNG QUÂN
Lê Ba
 
Tôi còn nhớ tiết trời sang thu, mới sáu giờ trời đã tối; mưa thu rây rây những hạt nhẹ như khói bay, thỉnh thoảng có cơn gió nhẹ lành lạnh cả người. Chúng tôi đang quây quần nhau, mở tung chiếc balô rồi thứ tự xếp gọn từng chiếc áo, quần và những đồ lặt vặt. Đồng chí Quýt, Tiểu đội trưởng đi họp về, tập hợp chúng tôi lại phổ biến cho chúng tôi biết việc sắp xếp nơi đóng quân, tiểu đội tôi chia làm hai tổ; tổ 1 có đồng chí Quýt ở nhà ông Ba, nhà này tương đối khá, cho đồng chí ở nhà nhỏ chỗ làm tương, nằm dưới bờ sông Cao Lãnh. Tiểu đoàn 313 vẫn thuộc E 658 đóng quân dọc theo đường bờ sông Cao Lãnh.
Chiều hôm đó chúng tôi đến nhà mới biết nhà Bác Hai là nhà sàn cao 1m, có ba gian rộng và một cái chái để làm bếp, cách đường bờ sông Cao Lãnh khoảng 20m. Muốn vào nhà phải đi qua cái cổng hàng rào bằng cây bông bụp cao ngang vai. Sân nhà rất sạch không có một ngọn cỏ mọc, bằng phẳng, đây là một sân phơi lúa. Chúng tôi vừa đến nhìn thoáng qua, ở trong nhà có một Bác tuổi độ hơn 50, mặc quần cụt, áo bà ba đen, do chịu đựng nhiều lượt nắng mưa nên bạc màu. Chúng tôi biết đó là Bác Hai chủ nhà; vì thương hai con nên Bác ở vậy không đi bước nữa. Chúng tôi đến chào Bác Hai, Bác đáp lại: “Chào các anh, mời các anh vào nhà” với thái độ lạnh nhạt. Chúng tôi nói tiếp: “Thưa Bác Hai chúng cháu đến nhờ Bác giúp đỡ cho 6 anh em cháu ở nhờ nhà Bác vài hôm để chuẩn bị đi tập kết ra Bắc thi hành Hiệp định Genève. Im lặng một lát Bác Hai tằng hắng rồi nói tiếp: “Nhà tôi đi làm đồng cả ngày, có ai ở nhà đâu mà để cho các anh ở nhờ!”. Nghe qua chúng tôi thầm nghĩ “Chắc Bác không cho ở nhờ rồi”, thái độ lạnh nhạt, càng thêm lạnh nhạt hơn.
Chúng tôi nhìn nhà trên cửa trước, cửa hong đều đóng chặt, nhìn sang phía trong chái nhà (bếp), thấy 2 cô con gái độ tuổi xuân đứng thập thò ở cửa ngó nhìn chúng tôi. Chúng tôi nói tiếp: “Thưa Bác, thôi thì ở trong nhà không tiện, Bác cho chúng cháu ở ngoài sân, ngoài hàng rào cây bông bụp có được không?”
Bác Hai liền trả lời một cách lạnh nhạt: “Tùy các anh”. Sáng hôm sau, 6 anh em chúng tôi dọn đến, để tạm balô trên sàn nhà, chạy đi mượn xẻng làm cỏ, quét dọn chỗ ở dọc theo hàng rào cây bông bụp, dùng tấm vải nilon làm mái che mưa gió.
Suốt quá trình ở đây cũng lâu lâu chưa bao giờ tiếp xúc được với Bác Hai và 2 cô gái, nhưng về sinh hoạt hằng ngày chúng tôi vẫn giữ bản chất là “Bộ đội Cụ Hồ”. Thể hiện trong hoạt động theo sự chỉ huy chung của đơn vị, chúng tôi tranh thủ giờ trưa, giờ chiều gánh nước, quét sân, quét xung quanh nhà; tối họp tổ.
Tuy không lâu nhưng rất căng thẳng! Hằng ngày chờ lệnh ra đi! Cuộc sống của chúng tôi tuy có vất vã nhưng dần dần cũng quen và một điều làm cho chúng tôi hiểu thêm nỗi khổ của người dân sống trong vùng địch chiếm.
Chiều hôm sau chúng tôi được lệnh chuẩn bị lên đường đi tập kết. Cấp trên có gởi cho chúng tôi một ít bánh kẹo, trà, thuốc lá và căn dặn tối nay mời gia đình họp mặt tại nhà để có lời từ biệt và thông cảm. Nhờ buổi họp mặt này mới thấy Bác Hai bộc lộ tình cảm với anh em. Bác nói: “Nói thật với các anh, thấy các anh đến xin cho ở, tôi mừng lắm! Nhưng nỗi ám ảnh lo sợ, các anh đi rồi, chúng nó đến đây làm khó dễ gia đình”. Buổi họp kéo dài hơn 1 giờ, qua lại những câu chuyện chúng tôi gây được cảm tình và làm cho gia đình hiểu bộ đội của dân, vì dân.
Trời về khuya sương rơi, gió nhẹ hơi lạnh người, cả tổ chúng tôi không sao ngủ được, thao thức mong đến giờ ra đi. Thình lình nghe tiếng sột soạt, sột soạt của lá cây quẹt. Chúng tôi tò mò, kín đáo đi tìm hiểu thì ra ở phía sau nhà bếp Bác Hai đang gộp các lá dừa lại bó cây đuốc dài hơn 2m.
Khoảng hơn 3 giờ khuya, không gian cả xóm đang yên lặng, thỉnh thoảng có tiếng gà gáy báo canh.
Chợt có tiếng tu hít liên hồi hòa lẫn tiếng của đồng chí Tiểu đội trưởng Quýt gọi anh em dậy dậy và tiếng hô tập hợp làm cả xóm xóc dậy. Chúng tôi bật dậy với một thao tác quen thuộc của người lính. Tư trang và ba lô gọn gàng theo sự chỉ huy của Đại đội tập hợp điểm danh, lặng lẽ đi đều bước theo hướng ra Bắc Cao Lãnh.
Bất chợt tôi thấy cách xa Tiểu đội tôi, có một cụ già vác cây đuốc đi theo đơn vị tôi, vì trời còn tối không thấy rõ là ai. Mãi đến trời sắp sáng mới nhìn ra là Bác Hai vác đuốc đi theo đưa chúng tôi. Tôi liền gọi Bác Hai! Bác Hai! Sáng rồi bác về đi, chúng cháu đi 2 năm sẽ trở về. Tôi vừa nói vừa đưa 2 ngón tay lên để báo hiệu 2 năm trở về, nhưng Bác vẫn lầm lì vác đuốc đi theo chúng tôi; thỉnh thoảng thấy Bác Hai lấy vạt khăn rằn đang quấn cổ, lau lên trán và lau lia lịa những giọt nước mắt. Chúng tôi thầm nghĩ “Bác Hai khóc! Khóc thật! Tình cảm này không thể nào phai”.
Trời sáng bạch rồi, đơn vị tôi cũng đến bến, chiếc tàu há mồm đậu chờ sẵn. Chúng tôi nhìn lại thấy Bác Hai còn đứng đó.
Xuống tàu ICM há mồm của Pháp. Đêm đầu tàu chạy chòng chành, lắc lư; ngồi trệt xuống sàn tàu mà người không được vững. Ngồi nghĩ, nhớ đêm họp mặt nhà Bác Hai. Nhớ trước khi về điểm tập kết Cao Lãnh, các mẹ, các chị may cho mỗi người một bộ áo xanh sơ mi, quần tây dài bằng vải ta trắng, về đơn vị anh em chia nhau đi tìm rau dừa để nhuộm lại màu xam xám. Mặc vào thấy mình đẹp trai, đầu đội mũ nan tre bọc vải màu lá cây, có phù hiệu, thật có hào khí “Anh bộ đội Cụ Hồ”.
Nghĩ mãi chưa ra, không biết ai cho tin, mà em ruột tôi biết chỗ đóng quân đến thăm, đang làm vệ sinh ngoài đường, thấy em đến tay xách túi cồng kềnh. Em gọi Anh Ba! Anh Ba! Anh em gặp nhau mừng vui xiết kể. Em qua thăm anh, anh vẫn khỏe, còn Ba ở nhà có khỏe không, Ba ở nhà yếu lắm anh ạ, em qua thăm anh, Dì Ba, Chị Mười Lùng cũng biết và gởi cho anh 2 hộp sữa Ông Thọ, 3 hộp cá mòi và bánh quy.
Sáng hôm sau, anh em chia tay nhau đầy nước mắt. Em về giữ gìn sức khỏe, thay anh chăm sóc cho Ba, 2 năm sau anh mới về được. Em tôi về rồi, lòng tôi bồi hồi xúc động nhớ thương Ba tôi quá! và ngủ thiếp đi. Mở mắt ra thấy mấy tên ngụy quyền đi tới đi lui, đưa mắt nhìn, quan sát chúng tôi, miệng luôn luôn la inh ỏi, ai đem lựu đạn theo, đem nộp ngay để bỏ xuống biển. La lối 2, 3 lần làm chúng tôi tỉnh ngủ.
Vào khoảng 8 giờ sáng sương mù hơi lạnh, tiếng gọi của đại đội trưởng “Anh em chuẩn bị sang tàu” chúng tôi xếp hàng dọc và từng người lên boong tàu, thì ra tàu Liên Xô đậu tại cấp (cấp-xăng-rắc) chờ sẵn, tàu rất to. Muốn qua tàu Liên Xô phải leo lên thang dây dài khoảng 20m. Chúng tôi vừa bị một trận sóng chòng chành từ Bắc Cao Lãnh đến đây, lại gặp phải leo thang dây lắc lẻo, gập gình khó đi.
Các đồng chí Liên Xô ở trên boong tàu thấy chúng tôi đều hô to “Hồ Chí Minh muôn năm” để chào! Và tổ chức nhiều đồng chí đứng trên thang dây đón nắm tay từng anh em chúng tôi lên tàu lớn.
Tàu Liên Xô rộng lớn, được bố trí ở dưới khoang tàu rộng, mát, thoải mái, chiều còn được đi trên boong tàu, nhìn không gian trời sao và hít không khí trong lành, có đêm còn được xem chiếu bóng. Rồi chúng tôi cũng làm quen với sóng gió, sức khỏe dần được phục hồi, nhưng ăn không được nhiều. Tàu bắt đầu chạy, gió biển lồng vào buồng tàu, người ớn lạnh. Tàu chạy mỗi ngày ra Bắc thì độ lạnh cũng tăng dần, làm cho chúng tôi như người ốm dở.
Chúng tôi không nhớ tàu chạy đến Sầm Sơn, Thanh Hoá bao nhiêu ngày nhưng bữa đó tiết trời có ấm, sương mù còn ít, tiếng của đồng chí đại đội trưởng “Anh em chuẩn bị sang tàu, lên bờ”, thì ra tàu Liên Xô đã đến bờ Bắc nhưng vì tàu lớn không vào được phải sang tàu há mồm của Pháp đưa chúng tôi vào bờ Bắc. Chúng tôi lần lượt lên boong tàu nhìn vào bến Sầm Sơn, không thấy gì cả, chỉ thấy rạng cây xanh xanh chạy dài theo bờ biển.
Tàu ICM há mồm của Pháp chạy hơn 1 tiếng đồng hồ, nhìn vào bờ lù lù trên bờ Bắc ở những rạng cây phi lao xanh, xen lẫn láng trại kéo dài cả cây số. Chúng tôi nghĩ đây là láng trại tiếp đón chúng tôi. Tàu chạy từ từ vào bờ, lúc này mặt trời mọc lên, sương mù tan dần, nhìn rõ cờ nước, cờ bướm, đồng bào mang khẩu hiệu, khẩu hiệu mọc theo dọc đường “Hoan hô bộ đội miền Nam tập kết”, kết hợp những nắm tay đầy gân cốt giơ lên với nhịp nhàng lời hô “Hoan hô bộ đội miền Nam tập kết!” thật là náo nhiệt, một tình cảm Nam - Bắc ruột thịt.
Tàu chạy đưa đầu vào bờ cát trắng, chúng tôi xếp hàng hai tuần tự đi ra khỏi tàu lên bờ, chờ tập trung đơn vị, hít thở không khí trong lành, ấm áp của miền Bắc.
Sau đoàn quân trên tàu lên hết và đơn vị tôi cũng  tập hợp xong; tôi nhìn lại phía tàu thấy 3 tên mặc quần áo thường không biết đây là công nhân hay là lính ngụy, bỏ tàu chạy xuống bãi cát, bị chúng bắt giữ lại và đánh tát tay túi bụi.
Lệnh của đại đội trưởng “Nghiêm, đi đều bước”. Chúng tôi xếp hàng hai, lần lượt đi qua hàng rào danh dự đón tiếp, các mẹ, các anh chị mặt mày hớn hở cười vui, niềm nở, miệng luôn hô khẩu hiệu “Hoan hô bộ đội miền Nam tập kết” cho đến khi đơn vị tôi đi khuất./.
7. ẤN TƯỢNG THEO SUỐT CUỘC ĐỜI
Trần Bá Tùng
 
Trung đội E thuộc đại đội địa phương huyện Lai Vung, có ba tiểu đội, quân số 20 người. Anh Biện, trung đội trưởng quê xã Long Hậu, anh Thanh là Chính trị viên, quê ở Sài Gòn, anh Hoa trung đội phó quê ở xã Long Hậu, còn lại 17 đồng chí cán bộ tiểu đội và chiến sĩ. Lúc đó, tôi là chiến sĩ (tổ trưởng tổ ba người). Vũ khí trang bị có súng trường Anh, Pháp và tiểu liên, tổng số 15 khẩu và lựu đạn hầu hết do đánh lấy của địch mà có.
Nhiệm vụ trung đội theo lệnh đại đội ở thời điểm đó là phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ phía Bắc. Ta tìm mọi cách tiêu hao sinh lực địch, đánh du kích, đánh đồn bót, chống càn quét của địch, trừ gian diệt tề và tuyên truyền các tầng lớp nhân dân ủng hộ, giúp đỡ xây dựng cơ sở cách mạng các xã vùng địch tạm chiếm.
Lương thực ăn uống của bộ đội dựa vào hai nguồn. Nguồn thứ nhất hàng năm đến mùa lúa chín, anh em bộ đội đi cắt lúa mướn cho dân rồi gởi lại cho các chủ ruộng sau đó lấy ăn dần. Nguồn thứ hai dân cung cấp là nguồn chính, bộ đội đi đến đâu đóng quân thì dân tự động lo cơm nước ngày hai bữa sáng, chiều, còn bữa nào đi đánh đồn bót các chị, các má nấu cơm nóng cho mang theo ăn. Việc này trở nên nề nếp quen dần trong dân ở nhiều địa phương. Chính những hành động đó, tình cảm chân thành, sự quan tâm gần gũi, nhiệt tình của các má, các chị, của tất cả mọi người dân đã tạo nên nguồn động viên to lớn, vững chắc trong đời sống, cũng như trong tinh thần của bộ đội, giúp anh em yên tâm đánh giặc. Có nhiều lúc giặc càn quét ác liệt, đơn vị rút sâu vào đồng ruộng, kênh rạch (ngọn rạch Xẻo Cạn, thuộc xã Hoà Thành, rạch Chùa xã Long Hưng…) các má, các chị… làm bánh, mang gạo vào cho bộ đội. Các chị, các má còn làm tai mắc nắm tình hình địch, hoạt động ở vùng địch kiểm soát, cung cấp cho bộ đội. Nếu ở thời kỳ đó, thiếu sự che chở, sự quan tâm chăm lo đời sống của dân thì bộ đội sẽ gặp muôn vàn khó khăn trong mọi hoạt động.
Về trang phục, tất cả bộ đội đều đi chân đất, còn quần áo thì đủ kiểu, đủ màu sắc, chỉ có màu trắng là phải nhuộm lại màu xám tro để nguỵ trang. Về sức khoẻ có một y tá cứu thương, trường hợp vết thương nặng thì được đưa lên tuyến trên.
Địa bàn hoạt động của trung đội thường xuyên gồm các xã Hoà Long, Hoà Thành, Long Hậu, Long Hưng, Vĩnh Thạnh, Tân Dương và một phần trục lộ 80 đi ngang qua huyện Lai Vung. Hệ thống đồn của địch đóng dọc theo trục lộ 80 là giữ đường, giữ các cầu, giữ các chợ, các đầu mối giao thông đường bộ. Còn ở xa hai bên lộ 80 là các đồn bót của các đạo (đạo Cao Đài, Hoà Hảo) đóng chằng chịt các đầu mối giao thông, đường sông, đường bộ nông thôn nhằm chiếm đất, giành dân, thu thuế, bắt lính để ta không còn chỗ ở, không đi lại liên lạc với nhau, không đất hoạt động và xây dựng lực lượng chống lại chúng. Trong bối cảnh đó, lực lượng ta còn nhỏ phải chống lại bốn lực lượng mạnh hơn ta nhiều, gồm giặc Pháp, tay sai đội lốt đạo Cao Đài, Hoà Hảo và Thiên Chúa giáo, nên ta hoạt động phân tán trong dân, nhờ dân che chở để bảo tồn lực lượng, chỉ có khi nào đánh với quy mô cấp đại đội trở lên hoặc phối hợp với bộ đội chủ lực thì mới tập trung. Sau khi xong nhiệm vụ (chống càn quét ở đồn điền xã Tân Mỹ tháng 3/1954 hay đánh bót Vĩnh Thạnh 4/1954) tiếp tục phân tán nhỏ trong dân để hoạt động.
Thời gian hoạt động của trung đội chủ yếu vào ban đêm đi diệt tề trừ gian do địch dựng lên, nhất là những tên ngoan cố chỉ điểm các cơ sở cách mạng của ta.
Thời điểm đó, địa bàn huyện Lai Vung chia làm hai vùng. Vùng một ta làm chủ ngày đêm, vùng hai còn lại là vùng dây thung. Đặc thù của vùng này là giặc chiếm đóng, kiểm soát ban ngày, ban đêm rút vào bót không dám ra ngoài, ngược lại ta làm chủ ban đêm, họp dân tuyên truyền cơ sở cách mạng ta trong vùng địch kiểm soát.
Đầu tháng 4/1954 có lệnh trên đưa về, ở miền Nam tiếp tục đánh mạnh tiêu diệt nhiều sinh lực địch, kìm chân địch để phối hợp chiến dịch Điện Biên Phủ phía Bắc. Cùng thời điểm đó có tin đồn công khai trong nhân dân ở cả hai vùng (vùng giặc Pháp chiếm đóng và vùng giải phóng) là giặc Pháp, tay sai bị thua trận Điện Biên Phủ, ta bắt nhiều tù binh, thu nhiều vũ khí. Cả báo chí công khai ở Sài Gòn cũng đưa những tin này, tin giặc Pháp bị thua trận làm tinh thần bọn giặc ngoan cố kềm dân chống lại cách mạng bắt đầu lo sợ, thể hiện như buông lỏng kiểm tra người, giấy tờ từ vùng giải phóng ra vùng thành thị mà giặc chiếm đóng.
Có đồn bót chủ động liên lạc với ta để ta đi lại vùng giải phóng qua vùng địch tạm chiếm đêm ngày (cầu Tân Lợi đi ngang lộ 80). Riêng bót ngã tư Cái Bường xã Vĩnh Thạnh nó mời ta vào bót ăn nhậu, ta cũng mời nó ra khỏi bót ăn nhậu, qua lại ngoại giao hai bên, giúp ta nắm được tình hình của địch trong bót. Quân số có bảy tên, vũ khí có năm súng trường, tên đồn trưởng có vợ ở cùng trong bót, quê vợ hắn cùng quê với anh em trung đội ở xã Long Thắng nên tên đồn trưởng ít phòng ta phản lại chúng. Trong quá trình qua lại đến lần thứ ba, tên đồn trưởng mời ta vào bót ăn nhậu và cơ hội đã đến, ta chuẩn bị đánh lấy bót của địch vào ban ngày với những khẩu súng ngắn. Hôm đó, trời nắng vàng nhạt ngã về tây, nước sông Tân Dương đổ về mang nhiều phù sa và có màu vàng đục (còn gọi là nước bạc) từ trên thượng nguồn đổ về. Ta bố trí hai tổ lên đường. Tổ một năm đồng chí do anh Biện phụ trách, anh Hoa, anh Tòng, anh Giáo, anh Liêm, tất cả súng ngắn vắt kín trong quần, mặc áo bà ba và áo sơ mi vào bót ăn nhậu với địch. Tổ hai, anh Thanh phụ trách số còn lại bên ngoài hỗ trợ bố trí bí mật cách bót khoảng 200m trong tư thế sẵn sàng. Trong thời gian ăn nhậu, chờ tên lính gác ở trên lô cốt xuống là cơ hội ta hành động. Đúng như ta dự kiến, tên lính gác ở trên lô cốt đã xuống, ta dùng súng khống chế nó, gác chạy lên chiếm lấy lô cốt và bắn một phát súng ngắn, báo hiệu tổ hai xông vào hỗ trợ, còn bốn đồng chí trong bót đồng rút súng ngắn kêu gọi đầu hàng. Trước tình thế đầy áp lực, ta đánh nhanh và bất ngờ cả trong và ngoài, tên đồn trưởng và bọn lính ở bót ngã tư Cái Bường xã Vĩnh Thạnh đầu hàng. Ta bắt sống bảy tên, thu tất cả vũ khí của chúng.
Sau đó, ta rút về hậu cứ ngọn Rạch Chùa xã Tân Dương. Vài ngày sau, đơn vị về đóng quân tại Vàm kinh Thầy Lâm, xã Tân Dương chuẩn bị cho kế hoạch tác chiến mới. Hôm đó, đầu tháng 8/1954, đồng chí Oảnh đại đội trưởng xuống phổ biến chiến thắng Điện Biên Phủ, thi hành Hiệp định Genève đình chiến. Quân đội ta tập kết ra Bắc, còn quân Pháp vào Nam, sau hai năm tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Cụ thể là đại đội địa phương huyện Lai Vung về tập kết tại xã Hoà An, Cao Lãnh, chậm nhất là đầu tháng 9/1954.
Đình chiến, vậy là trận đánh ngã tư Cái Bường của đơn vị là trận cuối cùng, không còn phải chiến đấu nữa, những kế hoạch tiếp theo đều huỷ bỏ. Các mẹ, các chị, nhân dân nơi tập trung đóng quân tại Vàm kênh Thầy Lâm, xã Tân Dương hôm đó đầu tháng 9/1954 đã tổ chức một bữa cơm thân mật quân dân chia tay với đơn vị.
Tin đình chiến được truyền miệng nhanh rộng khắp nơi, từ thành thị đến nông thôn xa, ai ai cũng biết bộ đội về tập kết xã Hoà An, Cao Lãnh rồi ra Bắc, bà con vui mừng khôn tả, vì nước ta miền Bắc hoàn toàn giải phóng, nhưng vấn vấn đề ở đây là ai đi tập kết, ai ở lại? Trước mắt, anh em tìm cách liên lạc về gia đình, đó là suy nghĩ của tất cả cán bộ, chiến sĩ cũng như biết bao tình cảm gắn bó cùng các má, các chị, nhân dân…đã yêu thương, nuôi dưỡng, che chở đơn vị thường xuyên đến đóng quân (ngọn Rạch Chùa, rạch Xẻo Đàn, ngọn Bầu Gàu…). Riêng vũ khí khẩn trương giao về trên một số.
Trời thu se lạnh, nắng vàng trải dài trên đường hành quân bộ, các má, các cháu, các chị, các gia đình người thân… tiền đưa chúc các con, bộ đội luôn mạnh khoẻ, nhớ hai năm về gặp lại nhau, hội tụ cùng gia đình. Anh em bộ đội cũng chúc lại các má, các mẹ, các gia đình cùng tất cả mọi người luôn mạnh khoẻ, tin tưởng hai năm nữa tổng tuyển cử thống nhất đất nước, chúng con sẽ về. Buổi chia tay đầy lưu luyến, thân thương, người với người, người với quê hương đã để lại trong lòng mỗi người hôm đó biết bao tình cảm yêu thương khó quên.
Trên đường hành quân, chân bước theo hàng quân đi về điểm tập kết mà trong lòng mỗi chúng tôi thấy bịn rịn, lưu luyến những tình cảm, những kỷ niệm năm tháng chiến đấu được nhân dân che chở, giúp đỡ nuôi dưỡng, vì lòng tin độc lập dân tộc thống nhất Tổ quốc, Nam Bắc sum họp một nhà. Dọc đường hành quân biết bao bà con, nhân dân ra đường tiễn đưa và xem các anh bộ đội nhất là đi qua những vùng trước đây mấy ngày địch còn chiếm đóng từ bờ Bắc Cao Lãnh về xã Hoà An, Cao Lãnh. Có một số ít nhân dân nhìn có vẻ thận trọng vì ở đây chưa từng thấy bộ đội nhiều như hôm nay.
Qua một ngày phơi mình dưới nắng nóng và là lúc hoàng hôn buông xuống, chúng tôi đến điểm đóng quân ở xã Hoà An. Trung đội E chúng tôi được phân công đóng quân ở nhà dân do đại đội phân công có liên hệ trước ở từng gia đình. Chúng tôi vừa đến, các chủ nhà vui vẻ đón tiếp thân mật, làm tan biến mệt nhọc trong chúng tôi. Gia đình cho chúng tôi nơi nghỉ, ngủ tốt nhất, rộng rãi ở nhà trên, còn gia đình dồn lại phía trong và ở nhà dưới chịu cảnh chật hẹp. Hơn ba tuần ở đây lệnh đại đội phân công Trung đội E có bốn việc:
- Giữ gìn trật tự khu vực đóng quân, lãnh đạo trung đội chịu trách nhiệm trực ban ngày, ban đêm tiểu đội chịu trách nhiệm tuần tra canh gác phạm vi phân công và sắp xếp đông đảo các gia đình người thân đến thăm anh em bộ đội. Người đến thăm ngày một đông, làm khu vực đóng quân sôi động cả ngày lẫn đêm, nên anh em phải sắp xếp sao cho trật tự được đảm bảo.
- Làm tốt công tác dân vận, cụ thể mỗi chiến sĩ trong ngày phải tìm gặp dân tuyên truyền từ một đến hai người dân trở lên, mỗi tối họp tổ ba người, báo cho tổ trưởng về tình hình anh em đi, anh em ở, từng cá nhân trong trung đội xem có diễn biến gì không, các đồng chí đều quyết tâm đi. Chín năm qua còn chịu được, bây giờ có hai năm nữa thôi. Ở nhà dân phải làm tốt vệ sinh trong ngoài và đường sá, xách nước dùng với gia đình, tắm giặt, cắt tóc cho trẻ em, dạy các trẻ hát những bài hát kháng chiến như Nam Bộ kháng chiến, Quốc ca… Hàng ngày các tiểu đội nấu cơm, phân công đi kiếm củi về nấu, không được lấy củi của gia đình. Các công việc gia đình anh em đều làm tiếp để có cơ hội tuyên truyền (còn gọi là ba cùng: cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân).
- Đi vận chuyển gạch về xây phần mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc theo phân công luân phiên của đại đội. Trong thời gian hơn ba tuần ở Hoà An, đi lấy gạch khoảng bốn ngày.
- Mỗi tiểu đội từng đồng chí chuẩn bị mọi thứ cần thiết của mình như quần áo, chăn đắp, ai có gì mặc nấy, màu gì cũng được chỉ trừ màu trắng, ai có tiền thi mua nón cối, không tiền thì đội nón nan bọc vải, đi chân không, lương khô nước uống trong năm ngày trên biển không có cơm.
Mọi thứ lên đường đều tự lực và một phần gia đình giúp đỡ. Quân đội nhân dân là như vậy, với tinh thần sẵn sàng có lệnh mà đi.
Sáng nay, như thường lệ tập thể dục về khoảng 7 giờ thì có lệnh trên đại đội xuống. Ngày 23/10/1954 Trung đội E nấu cơm ăn xong đúng 14 giờ tập trung đại đội hành quân xuống tàu tại bến Bắc Cao Lãnh. Lệnh phát ra truyền miệng rất nhanh, chỉ sau một giờ khu vực đóng quân sôi động hẳn lên. Anh em bộ đội chuẩn bị gọn gàng mọi thứ để lên đường. Các gia đình bộ đội, người thân, người quen, các má, các chị, các em đến đây các ngày qua ở quấn quýt đơn vị chờ đợi, tiễn đưa bộ đội xuống tàu. Bà con nhân dân khu vực đóng quân cũng chuẩn bị cho bộ đội như đi chợ mua sắm những đồ dùng cần thiết, tổ chức cơm nước…Hôm đó gần như ai cũng chạy đua theo thời gian để chuẩn bị vật chất và tinh thần, dặn dò, viết thư, gửi gắm, tặng quà kỷ niệm, cầu chúc nhau những điều may mắn nhất, những điều tốt lành nhất… với tình cảm thân thương lưu luyến.
Thế là giờ ăn đã đến, một bữa cơm thông thường nhưng rất nhiều người quen, gia đình bộ đội, chủ nhà nơi đóng quân góp sức bữa cơm nặng tình nghĩa quê hương để tạm chia tay với nhân dân Hoà An, Cao Lãnh thân yêu. Xong bữa cơm, anh em Trung đội E vội vã phân công nhau làm vệ sinh trong nhà, trước sân, ngoài cổng và xách nước ở các lu nước cho gia đình đầy đủ rồi chào cảm ơn gia đình giúp đỡ trung đội trong thời gian qua, xin ý kiến chủ nhà đóng góp ưu, khuyết điểm cho anh em. Đây là những việc làm quy định của bộ đội mỗi khi ở nhà dân ra đi, rồi Trung đội E chúng tôi lên đường đi đến điểm tập trung đại đội dưới ánh nắng thu, lá vàng rơi nhè nhẹ trên đường khi có cơn gió đi qua.
Hành quân đi của đại đội trên 120 người và nhiều đơn vị bộ đội bạn cùng đi; phía sau là các gia đình, các má, các chị cùng đông đảo nhân dân địa phương và một số đông nhân dân các tỉnh bạn cùng đưa tiễn ra bến Bắc rất trật tự để lần cuối tiễn đưa con em mình ra miền Bắc. Bộ đội chúng tôi xuống tàu chân bước đi mà lòng bịn rịn, nhưng nhờ sức mạnh lòng tin hai năm tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Đông đảo nhân dân tập trung trên bến phà nhìn theo từng bước chân bộ đội đi xuống tàu. Nhiều người cha mẹ tiễn con, vợ tiễn chống, tiễn người yêu… mà không nén được tình cảm, nước mắt cứ lăn tròn trên đôi má.
Trong những phút dây ngắn ngủi tiễn đưa lưu luyến, lúc đầu hai ngón tay đưa lên, rồi cả bàn tay, rồi vẫy cả khăn, cả nón, tiếng chúc sức khoẻ râm ran kéo dài, đến khi chúng tôi xuống hết chiếc tàu há mồm LCM. Những tiếng “con hãy nhớ về nha con, em sẽ đợi anh về…” từ từ nhỏ dần đến khi con tàu mất hút. Lúc đó, 15 giờ ngày 23/10/1954, đã để lại biết bao ấn tượng trong lòng mỗi người đến suốt cuộc đời không bao giờ quên./. 
8.NHỚ MỘT BUỔI SÁNG
Nguyễn Lê Du
 
Tôi là lính hóa chất, nhồi lắp vũ khí đơn vị đại đội 1023, Trung đoàn 115. Bộ phận cuối cùng sửa chữa nhồi lắp hoàn tất một loại đạn dược, chất nổ… cung cấp cho chiến trường, làm bằng phương tiện thủ công. Đơn vị sản xuất từ viên đạn súng ngắn đến trái thủy lôi, đánh chìm tàu chiến của Pháp trên sông Sở Thượng, lấy được khẩu đại bác 90 ly và nhiều quân trang, quân dụng…
Năm 1951 lấy tên Công binh xưởng “B” (BCX), Liên xưởng Đồng Tháp Mười. Năm 1952 lấy tên BCX “B”, Liên xưởng Long Châu Sa (Long Xuyên, Châu Đốc, Sa Đéc). Năm 1953, tôi được chuyển về công tác công trường Cao – Lai - Châu (Cao Lãnh, Lai Vung, Châu Thành).
Năm 1954 được đơn vị cử đi học, tôi học thợ nguội. Trường chuyên nghiệp Mỹ Tho đóng ở nội Đồng Tháp Mười dọc theo bờ sông Vàm Cỏ. Nói trường, thật ra là những căn nhà đưng, nhà tranh, cột tràm do cán bộ nhà trường hướng dẫn học viên cất. Mỗi nhà cách nhau thật xa đề phòng sự đánh phá của giặc. Dưới tàn cây, lùm cây rậm che trên, kín dưới quanh năm. Dọc theo mé sông lục bình, rau muống, cỏ… kết thành bè dày đặc, trên bờ cây tạp, dây leo, cỏ dại mọc bít bùng. Tàu giặc dưới sông nhìn lên không thấy, máy bay giặc trên không nhìn xuống không phát hiện được. Đêm đêm đốt đèn dầu cá nhân lờ mờ ngồi học, đập muỗi, sáng ra đồng bắt cá, hái rau.
Đồng Tháp Mười lớn lắm, rộng mênh mông ngó hết tầm mắt thấy chân trời chấn ngang thảm cỏ xanh vô tận, như nhìn ra biển khơi vậy. Cỏ, sậy, đế mọc khỏi đầu, Tây bố chui xuống cỏ là xong. Tây đi qua chui ra tiếp tục làm việc, học tập. Mùa khô cỏ cháy cả ngày cả đêm, chỉ có mưa mới dập tắt được. Năm Thìn 1952, bão lụt nước dâng lên khỏi ngọn cỏ, ngọn sậy như biển. Tàu Tây chạy vô đồng bố như chạy dưới sông để tìm diệt bộ đội Việt Minh, các cơ quan kháng chiến…
Đồng Tháp Mười được thiên nhiên ưu đãi, thức ăn, rau có sẵn quanh năm, mùa nước có cả lúa trời, mùa khô cá dồn xuống đìa ăn móng như cơm sôi, nước mương, rạch tanh mùi cá. Có những đám đế, đám sậy, cò đẻ trứng không biết làm gì cho hết… nhờ vậy hàng ngày chỉ cần có gạo là được. Và mỗi người tự túc 3 tháng lương thực một năm cũng không có gì khó khăn.
Thường ngày hơn bảy giờ sáng, thầy Mừng mới đến lớp. Bữa nào đến sớm là báo động Tây bố để học viên chôn giấu đồ đạc dụng cụ học tập…
Sáng nay học viên còn đang ngủ say nghe tiếng thầy kêu, nghĩ ngay là thầy báo động Tây bố. Việc xảy ra thường xuyên không có gì lo sợ. Không ngờ những tiếng tiếp theo: “Đình chiến, hòa bình rồi các em ơi!”. Không đợi trực nhật báo thức như hàng ngày, mọi người đồng loạt tốc nóp, dỡ mùng tuông ra như ong vỡ ổ chạy về phía thầy!
Thầy đang đứng ở mũi xuồng, xuồng còn nguyên vẹn những dề lục bình ngụy trang. Thầy cột xuồng lên bờ đi thẳng vô lớp học. Tất cả học viên chạy theo đứng bao quanh thầy. Thầy nói: “Sau chiến thắng Điện Biên Phủ buộc Pháp phải ký hiệp định đình chiến với ta tại Genève, Thụy Sĩ. Theo chủ trương chung kể từ hôm nay trường không dạy nữa. Các em tự thu xếp, lo liệu trở về đơn vị của mình”.
 Tiếng hoan hô, reo mừng, tiếng bàn ghế, chén đũa, nồi chảo vang lên, thầy trò ôm nhau như cha con trong gia đình xa cách mấy chục năm mới gặp lại. Cuộc chia tay thầy trò thật ngắn, “không liên hoan”, không trà bánh, chỉ lời chúc sức khỏe, hẹn gặp lại, cái bắt tay thật chặt, mắt ướt đỏ…!
Cuộc liên hoan mừng hòa bình, chia tay bạn bè kéo dài một ngày, một đêm bằng rổ khoai lang, tiêu chuẩn tự túc ba tháng ăn một năm, theo quy định, lớp học trồng chưa đến ngày đào.
Mặt trời mọc, cuộc chia tay giống như cuộc chia tay với thầy: Bắt tay thật chặt, ôm nhau không muốn rời, mắt ướt đỏ… Chúng tôi lần lượt tủa ra đồng, cỏ mọc lút đầu, mỗi người một hướng đi về đơn vị. Căn nhà từ nay trống vắng, im lìm hết tiếng dũa, tiếng cưa, tiếng đục, tiếng búa, tiếng nhỏ nhẹ của những chàng trai tuổi dưới hai mươi.
Sau bốn ngày đi bộ tôi về đến đơn vị công trường Cao-Lai-Châu đóng ở Cái Mác. Ngày hôm sau đến gặp chú Hội Ban chuyên môn Liên xưởng Long Châu Sa đóng gần cản đất kinh Nguyễn Văn Tiếp xã Ba Sao, nhận nhiệm vụ mở vũ khí lấy vỏ đem ra Hà Nội để triển lãm. Sáng, bỏ xuống xuồng ba lá trên chục trái nổ đến ngã tư Thống Linh mở. Nơi đây không có người, không ai đi qua lại, ở rất xa dân cư, nếu có nổ không gây thiệt hại tài sản, tính mạng của nhân dân.
 Chỗ nầy không có bóng mát, làm được hai ngày lưng phồng, rát không nằm ngửa được. Chiều ngày làm việc thứ ba nghe tin anh Sậm cùng quê hương kinh thầy Lâm bị nổ trái chết tại chỗ.
Một đêm khó ngủ… Ai cũng mong mỏi kết thúc chiến tranh. Anh Sậm hưởng hòa bình được mấy ngày bị nổ chết. Khi gia đình được tin, buồn và đau khổ lắm! Nếu mình cũng số phận như anh Sậm, gia đình cũng vậy thôi! Làm nghề hóa chất nhồi lắp vũ khí trong kháng chiến có hai cái chết:
- Chết do bom đạn của quân thù.
- Chết do trái nổ không kịp nháy mắt, mà mình đã biết và chấp nhận!
Nhớ đến cái chết âm thầm không nguyên vẹn, lượm từng miếng thịt, khúc ruột… của các anh chôn trong nội đồng, không dân… Còn ai biết? Một đêm suy nghĩ lung tung, không thứ tự, nhớ người sống, nhớ người chết…
Một buổi sáng uể oải sau một đêm khó ngủ, khi cầm trái vũ khí lên tay, sự uể oải tan biến mất. Nghĩ ngay đến nền đất Thống Linh bằng phẳng không có vật che chắn, nguy hiểm không lường được. Nhưng nhiệm vụ và cái chết đã chấp nhận, chỉ còn cẩn thận và cẩn thận để hạn chế rủi ro. Sáng nay tiếp tục xuống xuồng bơi đến ngã tư Thống Linh, cột xuồng mé sông hướng về Cải Vừng nhưng vẫn chưa tìm được cách cứu mình. Cầm trái địa lôi bước lên bờ, thấy bên kia có mấy gốc cây sát mé kinh Nguyễn Văn Tiếp. Thở phào nhẹ nhõm, có nổ gốc ô môi làm tấm chắn, chấp nhận bỏ hai tay hoặc cái gì nữa cũng được. Sự căng thẳng sống chết nhẹ như bông.
Đơn vị chúng tôi đi tập kết ở trong căn nhà lá vắng chủ ở xã Hòa An. Nền nhà và chung quanh nước ngập lênh láng, việc đi lại bằng cầu tạm, xuồng, bè chuối.. Vì cận ngày xuống tàu đi tập kết phải lo đan nón, may áo nón, may túi đựng cơm khô… chỉ được đi chơi cho biết Cao Lãnh một ngày coi sân banh, lầu Mười Chuyển, tới nhà thầy thuốc Lư nơi chúng đốt sống người, hình người in xuống mặt sân xi măng. Đi cả ngày không gặp được người quen để nhắn tin về gia đình. Sau bữa cơm chiều coi như chấm dứt hy vọng.
Nhà có hai bộ ván, anh em chia nhau nghỉ. Bên ngọn đèn dầu cá nhân leo lét để sắp xếp lại đồ cá nhân lần cuối. Đồ đạc tôi để nằm gọn trong ba lô, không cần phải sắp xếp lại. Ngồi góc ngựa ngoài chờ anh em sửa soạn xong mắc mùng ngủ. Nhìn người đứng gác tay cầm khúc cây, tay đập muỗi, chân muỗi cắn giơ lên để xuống mà làm bè chuối nhúc nhích gợn những làn sóng nhỏ lăn tăn rượt đuổi nhau vô bóng cây biến mất.
Nhìn nước nhớ nhà, nhớ lúc còn nhỏ ôm chuối bơi lội, cút bắt dưới sông đã rồi lên bờ, nhớ bà ngoại ngồi bên khay trầu vừa ăn vừa kể chuyện. Việc ông ngoại phá rừng, khai hoang lập nghiệp, bà nói: Hồi xưa, ở đây rừng sát mé sông Cái, chỉ có thú rừng, không có người. Khi ông ngoại đến đây phá rừng khai hoang lập nghiệp chỉ có con đường đi của thú rừng lên xuống sông Cái uống nước. Con rạch chạy quanh co đầu xuống sông như con rồng con bú vú mẹ, còn cái đuôi nằm ở đâu không biết. Mùa mưa thành nước chảy xuống sông rất xiết, mỗi năm càng sâu và rộng ra. Những người lập nghiệp dùng nó làm phương tiện lưu thông trong cuộc sống. Khi nước nổi dùng xuồng vận chuyển thay sức người đội, gánh, vác. Dân cư đến phá rừng lập nghiệp ngày càng đông thêm. Đường nước cong queo hai bên cây cỏ mọc um tùm che chắn không thấy phía trước. Xuồng đi ngược chiều hay đụng nhau. Không biết từ ai bày ra hai tiếng quát và cạy. Khi nghe “cạy” người đi ngược chiều phải đi bên phải của mình và ngược lại khi nghe “quát” người đi ngược chiều phải đi bên trái của mình, nhờ vậy mà tránh được thiệt hại, tai nạn. Từ đó có cái tên rạch ngã Cạy. Rạch ngã Cạy dần sâu hơn, rộng hơn ghe đi lại được, có người kêu sông ngã Cạy (lớn hơn Rạch). Nhưng khi đào kinh Thầy Lâm chặt mất khúc đầu, đào mương lớn chặt khúc đuôi, chỉ còn khúc giữa.
Đáng tiếc rẽ con rồng uốn lượn thật đẹp bị chặt đầu, chặt đuôi, tôi nghe tiếng kêu hỏi: “Ở đây có ai tên Du không?” Miệng la có, chân tôi bước xuống cầu tạm đi về phía người gác. Chiếc xuồng vừa cập cầu, thấy má, quai hàm tôi bị khóa chặt! Đứng nhìn má mà nước mắt tuôn ra! Má biểu đem chè xôi nước mời anh em ăn cho vui. Tôi mới hỏi gom được một câu má, ba, gia đình, bà con có khỏe không? Má ngồi xuống, tôi ngồi cầu tạm hỏi hết việc này đến việc khác. Tây bố đốt nhà cháy hết đồ đạc. Mấy tuần nay lính Hòa Hảo bỏ bến bắc bên Cao Lãnh kéo cả gia đình vợ con qua ở dài theo mé sông cầu bến Bắc bên mình, bây giờ đi đâu, làm gì cũng sợ. Gà gáy hiệp nhứt má nói: “Để má về qua sông cho kịp phiên chợ sáng, tránh sự dòm ngó của giặc”.
Má về, tôi vô mùng không sao ngủ được, hình ảnh của má già trước tuổi, đen, ốm, một mình bơi xuồng cả ngày đêm không biết mấy cây số, giờ một mình bơi về trong lo sợ! Nồi chè xôi nước má không có tiền mua đường, phải chặt mía ép lấy nước nấu. Sự cực khổ trong chiến tranh chồng chất lên má, má không nói, sợ mình buồn lo… Suốt đêm bên má, nhiều lúc thấy má buồn lắm, nhưng không thấy nước mắt, có lẽ đã chảy hết vào lòng để cho mình yên tâm đi tập kết.
Lệnh chuẩn bị ăn sáng đi hành quân, mọi suy nghĩ tan biến mất. Đơn vị tập hợp đường đất xã Hòa An. Hai bên đường để thật nhiều lá lợp nhà đã chầm rồi. Dân cư ở rải rác, cách xa xa mới có một nhà lá, sân rất rộng, nhà nào cũng có cây vườn bao quanh. Đơn vị hành quân đi hết đường đất, lên đường nhựa, rẽ phải ra bến Bắc. Mặt đường rất nhỏ, chân đường rất rộng, đường cao, hai bên trồng lúa xanh mướt, thỉnh thoảng có những liếp chuối nằm ngang, dọc trong đám lúa. Theo đường, từng tốp người vẫy tay chào rồi cùng đi với đơn vị ra bến Bắc. Ở đây thật đông người, không biết đến từ bao lâu? Tàu chưa đến, lệnh tan hàng chờ tàu. Tức khắc bộ đội cùng bà con hòa lẫn nhau thành từng tốp hội ngộ, giao lưu. Anh em có gia đình thăm, được thăm thêm lần cuối nữa. Bà con từ các nơi đến được biết có cả thân nhân đi lính cho Pháp, lính Hòa Hảo có dịp tiếp xúc với Việt Minh. Cuộc hội ngộ rất ngắn nhưng cũng giải toả được sự nghi ngờ, nghĩ không tốt về Việt Minh. Cử chỉ rụt rè, sợ sệt chuyển sang tình cảm chân thật, chất phát. Hình ảnh anh bộ đội Việt Minh đã thấm vào máu và tim của mỗi người. Khi lệnh tập hợp, cuộc chia tay thật nhanh đã nói lên điều đó: bắt tay, ôm nhau không muốn buôn ra, mắt ướt đỏ… Kẻ ở người đi cùng giơ hai ngón tay vẫy chào ngầm hẹn hai năm…./.
9. MỘT ĐỊA CHỈ LỊCH SỬ -
100 NGÀY TẬP KẾT TẠI CAO LÃNH
Lê Văn Chắc
 
Năm 1954, tập kết ở Cao Lãnh có quân đội và những người được tổ chức điều chuyển ở quanh vùng gồm cả tỉnh Gia Định - Tây Ninh (tỉnh Gia Định Ninh).
Tôi thuộc về đoàn tỉnh Gia Định Ninh. Đoàn lên đường từ sáng sớm ở một cánh rừng huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Khoảng trưa, dòng người lội qua một trảng rộng lúp xúp nước với cỏ cọng cao, không biết có phải là “đồng chó ngáp” không, vì rằng đi qua trảng xong ai cũng uể oải cả. Tuổi trẻ 15-16 của tôi bước đi không muốn nổi. Anh đội trưởng dẫn đầu phải quay trở lại động viên khích lệ. Trời về chiều, đoàn người vào đất Cao Miên vùng Mỏ Vẹt. Đội của tôi dừng chân tạm trú đêm ở nhà một người dân Khơ-me. Ngày đầu quá mệt mỏi nên ai cũng nằm lăn ra ngủ không còn biết trời trăng, nhưng chắc đoàn có cử người cảnh vệ. 
Sáng dậy, đã thấy trước nhà một dãy bàn thấp xếp dọc ở sân. Cơm đã dọn sẵn, mùi gạo như nếp thơm ngon. Chúng tôi chuẩn bị hành trang xong. Chủ nhà mời người đội trưởng ngồi đầu; chúng tôi ngồi dọc hai bên dãy bàn. Ôi! Có mùi gì lạ khó ngửi từ đầu dãy bàn? Mắm bồ hóc, một loại mắm ăn của người Khơme, hôm nay tôi mới biết mùi và đội trưởng được chủ nhà đem ra đãi khách quý. Chúng tôi không được thưởng thức. Nhìn đội trưởng ăn uống tự nhiên nói cười với chủ nhà tôi nhớ ra đội trưởng là cán bộ hoạt động vùng biên giới giữa tỉnh Gia Định Ninh với Cao Miên nên rất quen với tập tục của người Khơme.
Đoàn người tiếp tục lên đường, xuyên qua vùng Mỏ Vẹt. Người dân Cao Miên đứng hai bên đường xem rất đông. Chiều đến, đoàn người đến sông Vàm Cỏ Tây, đi dọc bờ tả ngạn, xuôi dòng nước. Tối hôm ấy và ngày hôm sau, đoàn dừng nghỉ ở nhà dân. Đội chúng tôi ở nhà có hai mẹ con. Sáng dậy, đội trưởng và tôi xuống đến nơi tập trung người tập kết ở bờ kênh kinh Dương Văn Dương. Dòng sông Vàm Cỏ nước trong xanh, bầu trời quang đãng, đội trưởng cầm mái chèo ở mũi, cô gái chèo cầm lái ở đuôi xuồng; tôi ngồi giữa nhìn hai bên sông; dưới nước dọc bờ đầy rong do những năm tháng ngăn sông, chống tàu địch để lại. Thỉnh thoảng thấy anh đội trưởng quay mặt lại nhìn tôi mỉm cười. Tuổi trẻ của tôi còn ngây ngô, có để ý gì đâu. Anh đội trưởng đã cảm nhận được ý nghĩ của gia đình hai mẹ con bà chủ nhà khi tôi tặng cô gái một đồng bạc Đông Dương, tặng vật kỷ niệm của má tôi cho tôi khi rời Sài Gòn vào chiến khu. Tặng vật kỷ niệm trước khi chia tay với gia đình có gì đâu! Ai dè, ý nghĩa lúc này khác rồi. Đến nơi, mang ba lô lên bờ vẫy tay chào cô gái chèo xuồng, tôi bước đi bình thản. Ôi! Cô gái Nam Bộ đó với bộ quần áo bà ba đen, đầu đội nón lá, tay cầm chèo nhìn theo, tôi nào có để ý. Bây giờ đã qua tuổi bảy mươi, thỉnh thoảng tôi vẫn nhớ những ngày thân thương đó, nghĩ không biết cô gái mà tôi chưa kịp biết tên sau đó thế nào, bây giờ còn ở bên sông Vàm Cỏ không? Cái anh con trai miền Đông này thật ngây ngô đến tệ! Nếu được gặp lại cô gái ngày ấy quả thật là một giấc mơ không tưởng nổi.
Bên bờ kênh Dương Văn Dương những ngày tập trung người tập kết thật rộn ràng, bề bộn. Người vào cánh đồng đưng cắt về lợp lán trại tạm trú. Người lo đắp nền dựng nhà. Lán trại xong rồi, mỗi ngày hai buổi học tập Hiệp định Đình chiến. Chiều đến, rất đông người ra bờ sông hóng mát, nhìn những chàng trai bơi lội dưới nước xuôi ngược dòng hàng cây số như con rái cá. Dân miền Đông tụi tui thấy mà mê, ít người biết bơi lội. Trời sắp tối, tôi đứng trước nhà nhìn ra sông. Những ai mặc quần cụt bị muỗi cắn chỉ có lấy hai bàn tay nắm ống chân mà vuốt chứ không đập hết. Thế mới thấy cái hay của chiếc “nóp” miền Tây.
Vào một ngày, sáng sớm nhiều chiếc đò đã cặp bờ chờ sẵn. Đoàn người xuống đò nổ máy chạy thẳng ra kinh Nguyễn Văn Tiếp giữa Đồng Tháp Mười, chiến khu kháng chiến miền Tây. Dòng kinh đầy rong rêu, thỉnh thoảng phải dừng đò để thuyền viên lặn xuống móc rong quấn vào chân vịt. Đây là tác dụng ngăn dòng sông, chặn tàu địch trong những năm kháng chiến.
Lên bờ Cao Lãnh, đoàn người tập kết tỏa ra tạm trú nhiều nơi. Đội chúng tôi ở nhà một người dân Hòa Hảo. Sáng đến, anh nuôi và tôi ra chợ (không biết chợ nào ở thị trấn Cao Lãnh). Nhìn khắp, sao mà thịt chuột làm sẵn sạch trắng nhiều thế! Mua về nấu gì ăn đây? Anh nuôi chọn vậy.
Lo tổ chức cho đòn người xuống tàu chắc bận rộn lắm, kể cả đội trưởng của đội tôi. Còn chúng tôi chiều ra con rạch trước nhà tắm rửa. Tôi người miền Đông có biết bơi đâu. Xuống nước, quơ tay, quậy chân cho nổi để quen dần. Gần chiều tối, đội trưởng giao cho tôi công văn chuyển cho đơn vị đóng dọc con rạch. Tôi xuống xuồng tam bảng, cầm chèo, chèo một cái bên này, đầu xuồng lướt qua bên kia. Bí quá! Biết làm sao đây? Nghĩ không ra cách chèo. Tôi đành cứ thế mà chèo. Xuồng cùng ngoằn ngoèo lướt tới. Rồi cũng đến nơi. Công văn chuyển xong, tôi quay về theo cách chèo cũ. Trời đã tối, chủ nhà còn thức, hỏi thăm và bồi dưỡng chuối cho chú nhóc liên lạc. Mấy ngày sống ở vùng dân Hòa Hảo thân tình, ấm cúng làm sao.
Sáng hôm sau, tôi lại chèo xuồng đi đưa công văn. Xong đâu đó, làm vệ sinh nơi ở, chuẩn bị hành trang lên đường ra cầu Bắc chờ xuống tàu chiến Pháp đưa ra Ô Cấp (Vũng Tàu) lên tàu biển. Chiếc tàu “mặt dựng” chạy đêm đến sáng tới Vũng Tàu. Một chiếc tàu hàng Pháp đã bỏ neo đậu chờ sẵn ở vùng biển Ô Cấp. Tàu nầy vừa chở tù Côn Đảo ra Bắc trao trả rồi quay lại chở người tập kết chuyến đầu tiên ở bến Cao Lãnh và cũng là chuyến cuối cùng của tàu Pháp chở người tập kết. Đoàn người khoảng 1000 người lần lượt bước theo cầu thang lên tàu. Xung quanh mặt biển mênh mông, phẳng lặng, nước trong xanh. Theo chuyến tàu này có bác gái vợ Bác Tôn Đức Thắng và khoảng 20 nữ. Có một trung đội giải phóng quân nhân dân Trung Quốc đi tàu lạc đến Nam bộ đang kháng chiến.
Vào khoảng chiều, tàu nổ máy hướng ra Bắc. Nhìn vào bờ thấy xa dần, xa dần. Ôi! Lòng bâng khuâng làm sao! Xa quê nhà rồi! Kia là cửa sông Lòng Tàu, còn kia mờ mờ là Ô Cấp. Máy tàu biển chạy xình xịch, đều đều. Chiều mát, ăn bánh mì, phần ăn mang theo của đoàn, xong nhiều người lên mặt boong hóng mát, nhìn trời biển. Anh đội trưởng và tôi lấy võng ra tìm chỗ treo nằm nghỉ. Gần chập tối, xa xa thấy hai chiếc tàu biển mang theo quốc kỳ Liên Xô và Ba Lan hướng vào Nam tiếp nối chuyển người tập kết ở bến Cao Lãnh.
Qua đêm, sáng trời còn đẹp, về chiều sóng bắt đầu cao, gió thổi mạnh. Chiều tối, tàu chạy vào vùng có bão. Mưa mỗi lúc một nhiều. Sau tàu nổ máy, tiếp tục hành trình ra Bắc. Khoảng hai ngày sau, vào đêm tàu thả neo ở ngoài khơi Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá, nơi đón tiếp người tập kết ở miền Bắc. Đứng trên boong tàu, nhìn vào bờ đang sáng ánh đèn. Một chiếc tàu “mặt dựng” Pháp chạy nhanh hướng ra chiếc tàu biển. Bác gái vợ Bác Tôn được đưa xuống tàu vào bờ ngay trong đêm để ra Hà Nội. Thầm nghĩ, chắc Bác Tôn lúc này không sao ngủ được, bởi đã bao năm rồi, hai Bác có gặp nhau đâu.
Lên bờ, đoàn người chia nhau về đơn vị tiếp đón. Tôi tuổi 15-16 thuộc lớp học trò, tập trung về lán trại nhỏ tuổi. Ở nơi đón tiếp dưỡng sức một ngày. Đêm ngủ, trại chúng tôi có cô bảo dưỡng chăm sóc, đắp lại chăn cho bé nào đạp xuống đất. Thật một sự chăm non thân thương làm sao! Những người làm ở nơi đón tiếp rất nhiệt thành nhưng có lẽ không khỏi lo lắng ở nhà cơn bão vừa tràn qua Thanh Hóa thiệt hại ra sao…
Những ngày sau, chúng tôi được sắp xếp vào lớp học trường Học sinh miền Nam tạm lập ở các thôn xã thuộc huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Học sinh tạm ở nhà dân.
Từ đây, tuổi trẻ miền Nam tập kết ra Bắc bắt đầu cuộc sống trên đất Bắc. Với tầm nhìn xa, Bác Hồ giao cho chính phủ tổ chức hàng vạn tuổi trẻ được đi học thành tài, chuẩn bị cho ngày về Nam xây dựng quê hương.
Như cố thủ tướng Phạm Văn Đồng nói: “Việc thành lập hệ thống các trường học sinh miền Nam trên đất Bắc là một chủ trương lớn, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, không chỉ thể hiện tầm nhìn, cách nhìn rất sáng suốt, sâu rộng mà còn nói lên tình cảm cao quý thiêng liêng của Bác Hồ, của Đảng và nhà nước ta cũng là Tổ quốc và nhân dân ta với các cháu miền Nam lúc bấy giờ”.
“Có thể nói, đây là vườn ươm đặc biệt, ươm những hạt giống quý báu vào bậc nhất mà Bác Hồ, Đảng, Nhà nước và nhân dân miền Bắc đã dành cho miền Nam từ những ngày gian khó ấy, nay đã mang lại hiệ
Bốn mươi năm sau ngày tập kết ở bến Cao Lãnh, những mái đầu xanh ngày nào bây giờ đã là ông bà với nhiều con cháu. Thế hệ thời ấy sắp qua hết, thế hệ mới đang tiếp nối. Còn đó bến Cao Lãnh 100 ngày tập kết vẫn là một địa chỉ lịch sử với non sông đất nước./. u quả rất to lớn cho đất nước” (Tháng 5 năm 1999-Phạm Văn Đồng).
10. TIỂU ĐOÀN 311 TẬP KẾT Ở CAO LÃNH
Nguyễn Văn Tòng
 
Tiểu đoàn 311 ra đời ở Đồng Tháp Mười năm 1950. Tiểu đoàn thành lập trên cơ sở tập trung ba đại đội 947, 948 và 949 địa phương quân tỉnh Sa Đéc. Lúc ấy, Tiểu đoàn trưởng là anh Nguyễn Phước Trẩm nguyên Trung đoàn phó Trung đoàn 115. Tôi là Chính trị viên Tiểu đoàn.
Từ đó, Tiểu đoàn đã chiến đấu lúc tập trung, lúc phân tán từng đại đội theo địa bàn mỗi huyện, thực hiện nhiệm vụ vừa thọc sâu vô vùng địch tạm chiếm, gỡ đồn bót, phá kềm kẹp dọc sông Cửu Long từ Cao Lãnh dài lên biên giới Việt Nam - Cao Miên, vừa chống địch ruồng bố vào vùng giải phóng Đồng Tháp Mười và đã lập nhiều chiến công vang dội. Nhiệm vụ chính của Tiểu đoàn là hoạt động quân sự đánh tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, lấy vũ khí địch bổ sung cho ta, vừa làm công tác tuyên truyền, vận động quần chúng, tức làm công tác dân vận và làm công tác địch ngụy vận, vận động sĩ quan, binh lính trong hàng ngũ địch. Đồng bào các huyện quen thuộc và rất yêu thương, tin tưởng, ủng hộ Tiểu đoàn, coi như đứa con cưng của mình.
Khi có lệnh đình chiến theo tinh thần Hiệp định Genève, vì là đơn vị của tỉnh nhà nên Tiểu đoàn 311 được giao nhiệm vụ tiếp quản, bảo vệ các cơ sở trong nội ô thị trấn Cao Lãnh và đóng quân ở các vùng phụ cận. Lúc này, Tiểu đoàn trưởng là anh Nguyễn Xuân Đẩu, hai Tiểu đoàn phó là anh Dương Hồng Tăng và La Duy Giông, tôi vẫn là Chính trị viên Tiểu đoàn.
Trước khi tiếp quản thị trấn Cao Lãnh, toàn bộ cán bộ, chiến sĩ đều được học tập kỹ lưỡng các văn bản chỉ đạo của Trung ương Đảng, Xứ ủy Nam Bộ, Bộ Tư lệnh Quân khu 8 và Tỉnh Đội Long Châu Sa về thắng lợi của ta, nhiệm vụ mới khi có đình chiến, học tập nội dung Hiệp định Genève, về chính sách của ta đối với vùng giải phóng, những điều kỷ luật đối với bộ đội ta khi ra vùng trước đây bị địch tạm chiếm... nhất là giải quyết tư tưởng khá phổ biến của anh em bộ đội lúc này là tại sao thế ta đang thắng lớn, địch trên đà thua mà ta lại đình chiến, phải tập kết ra Bắc, giao miền Nam lại cho đối phương quản lý hai năm...
Để chuẩn bị cho cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn ăn mặc đàng hoàng hơn khi ra Cao Lãnh vì thực sự quân ta trong chiến đấu có chi mặc nấy, về quân trang được trên cấp cho vải ta trắng, anh em tự lo may bộ đồ chính qui, có hai túi áo ngực và hai con đỉa trên vai. Xong, hoặc nhuộm với rau dừa rồi hạ xuống bùn, hoặc nhuộm với pin đèn để bộ đồ có máu xám tro. Sĩ quan mặc quân phục vải kaki. Từng đơn vị xin dân nơi đóng quân cho tre, trúc chẻ ra đan nón nan, ngoài bọc vải hay ni-long, có lưới bao. Nhờ các chị, các mẹ thêu cho lá cờ đỏ sao vàng trên vải bọc đồng xu tròn, kết vào đầu nón.
Nhờ vậy, ngày Tiểu đoàn ra tiếp quản thị trấn Cao Lãnh (không phải một lúc nguyên Tiểu đoàn), quân ta hùng dũng đi theo hàng ngũ, trước hàng quân có lá cờ truyền thống của Tiểu đoàn. Trên các ngã đường bộ đội đi từ Mỹ Ngải qua Hòa An (vì cây cầu Kinh Cụt không đi được) vô thị trấn Cao Lãnh, bộ đội ta tươi cười diễu qua các dãy phố, vẫy tay chào đồng bào. Bà con trong phố và người đi chợ đứng dọc phố vui mừng đón bộ đội, vừa nhìn để tận mắt thấy bộ đội Việt Minh, chiến sĩ Vệ quốc đoàn mặt mày, tướng tá ra sao. Sau đó, từng đại đội về nơi đóng quân đã được phân công trước: Đại đội 949 tiếp quản khu Dinh quận và xã Hòa An; Đại đội 947 đóng ở xóm Bún; Đại đội 948 đóng dài lên Chợ Mới Mỹ Ngải; Chỉ huy sở Tiểu đoàn đóng ở xã Hòa An.
Từng tiểu đội được phân công trực nhựt canh gác các trụ sở, ban đêm gác nơi đóng quân, đi tuần tra các ngã đường, bảo vệ an toàn tuyệt đối trong nội ô và vùng phụ cận thị trấn. Qua mật tin, ta nắm được bọn địch có ý đồ phá hoại an ninh, trật tự vùng ta tiếp quản.
Đóng trong nội ô, anh em bộ đội hiền lành hòa nhã, khiêm tốn, kính trọng dân nên ngay từ đầu đã gây được thiện cảm với nhân dân. Từng đơn vị nhỏ được phân công làm vệ sinh đường phố, quét gom rác, thụt cống rảnh đang bị nghẹt... những việc làm cụ thể, thiết thực đó người dân tận mắt chứng kiến, trăm nghe không bằng một thấy, dễ dàng cho họ so sánh anh bộ đội Cụ Hồ của dân, hết lòng lo cho dân, với những tên lính Pháp, lính ngụy trước đó ngang tàng, thô tục, hóng hách với dân.
Tiểu đoàn 311 còn vinh dự được giao nhiệm vụ xây dựng hai công trình tưởng niệm là Đài liệt sĩ
(dân quen gọi là Đài chiến sĩ) ở góc ngã tư đối diện lầu
Mười Chuyển và mộ Cụ Phó bảng Nguyễn
Sanh Huy ở gần miễu Trời Sanh. Từng đại đội tuyển chọn những anh em am hiểu về xây dựng đưa lên, Tiểu đoàn tập hợp lại, phân công vào từng công trình. Việc làm có tác động vào lòng dân này đã được sự đồng tình ủng hộ, góp sức, góp của, góp công của nhân dân Cao Lãnh. Tấm bia Đài liệt sĩ ghi bốn chữ trang nghiêm: Tổ quốc ghi công. Trên nóc ngói giữa hai con rồng chầu có phù điêu đắp nổi hình tròn cờ đỏ sao vàng.
Mộ Cụ Phó bảng nằm trên liếp giữa hai con mương vườn. Do vậy, phải bắt một cây cầu gỗ đi qua. Ngôi mộ cũ chỉ có núm xi-măng, được xây lên bằng gạch, trước có tấm bia mộ ghi: Cụ Phó bảng Nguyễn Sanh Huy, chết ngày 27 tháng 10 năm Kỷ Tỵ 1929. Dưới có dòng chữ nhỏ: Quân dân chánh Long Châu Sa lập. Bốn bên mộ có dựng rào bằng cột xi-măng, luồn ống sắt.
Trước khi cả Tiểu đoàn xuống tàu ở bến Bắc Cao Lãnh, từng đại đội tổ chức cho cán bộ, chiến sĩ đến đây viếng và chào tạm biệt hai công trình lịch sử này. Và Tiểu đoàn 311 là đơn vị cuối cùng rời Cao Lãnh đi tập kết ra Bắc. Có một việc hơi khó xử là vợ đồng chí La Duy Giông, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 311 ở Hà Nội mới vô thăm chồng. Phía Liên hiệp Pháp không đồng ý cho chị cùng xuống tàu đi với chồng ra miền Bắc. Cuối cùng chị phải đi máy bay ra Hải Phòng để về Hà Nội.
Trước một ngày giao lại vùng tập kết cho Liên hiệp Pháp, tại lầu Mười Chuyển có cuộc bàn giao của hai phái đoàn ta và Pháp. Phía ta có đồng chí Tô Ký đại diện phái đoàn Liên hiệp đình chiến phụ trách miền Đông đi máy bay trực thăng  đến đáp ở lầu Mười Chuyển. Tôi và các anh chỉ huy Tiểu đoàn  311 đều có mặt tham dự. Phía Liên hiệp Pháp có Đại tá Le Duc. Cuộc họp thực tế là một cuộc mit-tinh có cả trăm người dự. Trong bàn giao bên ta buộc Liên hiệp Pháp hứa bảo vệ hai công trình Đài liệt sĩ và mộ Cụ Phó bảng Nguyễn Sanh Huy và “Giải quyết các vấn đề bằng biện pháp hòa bình”. Kết thúc, đại diện bên ta nói rõ: “Chúng tôi giao vùng quản lý trước đây cho nhà cầm quyền Pháp”. Đại tá Le Duc nói bằng tiếng Pháp: “Chúc hòa bình và thịnh vượng”.
Ngay sau ngày ta đưa quân rời khỏi Cao Lãnh, các lực lượng quân đội thuộc Liên hiệp Pháp trở lại chiếm đóng và sự việc mới, tình thế mới đã diễn ra.../.
11. ÔNG GIÀ ÁI BINH
Ông Phan Hồng Thái kể
Ngô Thị Thuỷ ghi
 
Tôi sinh năm 1930 tại xã Hoà Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Đầu năm 1945, tôi được kết nạp vào tổ chức Thanh niên Tiền phong. Ngày 25/8/1945, tôi tham gia đoàn biểu tình giành chính quyền tại xã và tiếp tục công tác tại địa phương (dân quân tự vệ và liên lạc uỷ ban). Ngày 16/4/1949, tôi nhập ngũ Biệt động đội, chi quân báo Vĩnh Long. Năm 1950 chuyển lên Biệt động đội Ban quân báo Khu 8. Năm 1951, chuyển qua Đại đội 945 pháo binh trợ chiến (vũ khí mới - SSA, SSB, SKZ do Cục trưởng Cục Quân khí Trần Đại Nghĩa chế tạo) thuộc Tiểu đoàn 309 (chuyên bắn tàu và công đồn địch).
Trong những ngày chuyển quân tập kết ra Bắc, đơn vị chúng tôi phải hành quân qua nhiều địa phương: từ huyện Mộc Hoá tỉnh Long An - Sông Vàm Cỏ dọc kinh Dương Văn Dương, kinh Tháp Mười đến kinh Nguyễn Văn Tiếp, Mỹ An…. Cuối cùng là xã Hoà An, Cao Lãnh. Lúc này, việc đi lại của người dân từ vùng giải phóng ra vùng địch kiểm soát rất khó khăn, nhất là qua lại trên sông Tiền. Trong đơn vị, hầu hết anh em quê các tỉnh thuộc bên này sông Tiền (Mỹ Tho, Gò Công, Tân An, Sài Gòn…), chỉ mình tôi ở mé bên kia sông Tiền (Vĩnh Long). Khoảng thời gian ấy có những kỷ niệm đã theo tôi suốt những năm tháng trên miền Bắc và tới hôm nay ở tuổi 83 - tuổi “gần đất xa trời”, tôi vẫn không thể nào quên. Ký ức ấy vẫn hằn sâu trong tâm thức. Một thời Cao Lãnh sôi động, một thời bộ đội tập kết!
Lúc bấy giờ nhân dân được sống trong hoà bình sau những năm tháng chiến tranh gian khổ nên ai nấy đều rất phấn khởi, niềm vui hiện rõ trên gương mặt. Cha mẹ gặp con, vợ gặp chồng, con gặp cha, người đang yêu có nhiều tâm sự… tôi cũng có tình cảm với một người con gái cùng quê, là mối tình đầu. Nhớ lại thời gian (7/1949), tôi chiến đấu bị thương khá nặng, nghe tin, cô ấy lo lắng, bồn chồn, vì không có điều kiện vào vùng căn cứ kháng chiến để trực tiếp chăm sóc, cô ấy đã mua đường, sữa, cam gửi cô em họ mang đến cho tôi bồi dưỡng. Cô em tôi kể: “Chị ấy đang ăn chay để khấn vái trời phật cho anh mau lành vết thương”. Cảm động trước tấm chân tình của người con gái đang yêu, cô ấy còn rất trẻ, tôi lại đi tập kết không biết có trở về sau hai năm không hay nhiều hơn thế nữa. Hẹn ngày về khi đất nước độc lập, nhưng lời hẹn đó mãi mãi chỉ là lời hẹn bởi người Nam kẻ Bắc, bởi chiến tranh! Để cảm ơn những tình cảm mà người con gái thuở nào đã dành cho mình, tôi đã làm bài thơ “Không đề”: 
Biết yêu từ thuở trăng tròn
Hồi còn tóc kẹp lòn thòn bờ vai
Xa nhau từ bấy đến nay
Tóc em hiện đã ra dài đến đâu?
Chín năm kháng chiến gian lao
Hẹn ngày độc lập “trầu cau thiệp mời”
Nhưng chưa về được em ơi!
Anh còn tiếp bước theo cờ đấu tranh!
***
Cầu mong vết thương mau lành
Cơm chay một tháng mà anh hiểu nào
Đêm nằm em mãi ước ao
Đánh thắng giặc Pháp, Việt Nam yên bình
Đến khi em được nghe tin
Pháp thua phải ký hoà bình Đông Dương
Vậy là giặc Pháp hết đường
Âm mưu tái chiếm Việt Nam không còn
***
Em ơi, nước chảy đá mòn!
Chuyện xưa kể lại… hồi còn tóc xanh
Hai mốt năm… lại chiến tranh
Phân chia Nam Bắc ta đành… vô duyên!
Giờ thì ai nhớ, ai quên?
Riêng anh nhớ mãi... tóc huyền vai em!
Khi đơn vị về Mỹ An đóng quân trên bờ kinh Nguyễn Văn Tiếp, một số thân nhân của chiến sĩ quê ở các tỉnh Mỹ Tho, Gò Công, Tân An và Sài Gòn tới thăm rất đông. Họ đi bộ và đi xuồng “ba lá”, mỗi xuồng chở khoảng 3 đến 4 người. Anh Danh - một đồng đội quê ở Sài Gòn, có vợ con và một số cháu là học sinh, sinh viên cũng tháp tùng vào chiến khu xem bộ đội. Họ tỏ vẻ thích thú, có những câu hỏi rất thú vị như “thành luỹ ở chỗ nào?”, “Chiến khu ở đâu?”, anh em phải tìm cách giải thích: Vì đặc thù của chiến trường Đồng bằng sông Cửu Long, hay còn gọi là “chiến khu bưng biền”, khác với các vùng miền Trung, miền Bắc có rừng núi, hang động lập căn cứ, chiến khu. Còn ở ĐBSCL căn cứ, thành luỹ vững chắc là “lòng dân”, dân tin, dân che chở cho bộ đội… Qua trò chuyện với người thân của anh em từ thành phố xuống, nhất là học sinh, sinh viên, trí thức, chúng tôi mới hiểu trong suy nghĩ, hình dung của họ thì “bộ đội Việt Minh” sống khổ cực, ăn đói mặc rách, người ốm yếu. Chắc họ đã hiểu được bộ đội thời kỳ ấy rất khó khăn, trên chỉ cấp lương thực 9 tháng gồm gạo, khoai lang và củ mì. 3 tháng còn lại anh em phải tự túc, trồng lúa, khoai, rau, mò cua bắt ốc trên đồng ruộng và ăn độn các loại rau sẵn có trên đồng ruộng như bông súng, bông điên điển, tai tượng, kèo nèo… Nhưng tất cả chúng tôi đều vui vẻ, sẵn sàng chấp nhận mọi thiếu thốn, một lòng theo cách mạng đến thắng lợi cuối cùng.
Ngoài anh Danh và nhiều anh em khác, anh Trương cũng có mẹ từ Bến Tre lên tìm con. Bà ở cả tuần. Khi mẹ gặp con, bà mừng mừng, tủi tủi. Hai mẹ con trò chuyện rất nhiều… chuyện riêng tư của họ anh em trong tiểu đội không tò mò. Nhưng đến khi bà oà lên khóc nức nở, chúng tôi mới hỏi. Bà nói: “Xa con lâu quá, tới hai năm lận!” - Hồi đó hai năm là lâu rồi vì con đi kháng chiến đằng đẵng, giờ hoà bình gia đình chỉ mong được sum hợp. “Tôi xin cấp trên cho nó ở lại”. Ban Chỉ huy đơn vị giải thích “đi hai năm sẽ trở về, ra Bắc được học tập, được nâng cao trình độ, sau này về tiếp quản chính quyền” nhưng bà không thông. Cuối cùng anh Trương với giọng cương quyết: “Con bây giờ không còn là con riêng của má, mà là con của Nhà nước!”. Bà lặng người một hồi và hình như đã hiểu ra được điều gì đó… Để động viên bà, chúng tôi đã an ủi: “Đây là thắng lợi của kháng chiến, đi tập kết để tiếp tục đấu tranh thống nhất nước nhà”, bà mới yên tâm để con đi tập kết. Hai năm đối với bà đã là lâu nhưng bà và chính những người trong cuộc như chúng tôi cũng không ngờ thời gian xa cách lại lâu và lâu đến như thế, không phải hai năm mà gấp hơn mười lần con số hai năm!. Sau này, với những năm tháng trên miền Bắc, tôi không thể tưởng tượng được bà đã phải mòn mỏi, trông ngóng tin con như thế nào trong suốt một thời gian dài - hai mươi mốt năm!
Một buổi chiều, đơn vị hành quân tới Phong Mỹ, đóng quân trong nhà dân; người dân coi bộ đội như con em mình, vui vẻ, niềm nở và xưng hô rất thân mật, tự nhiên. Những người lớn tuổi (đáng tuổi cha chú) thì “mầy tao” rất gần gũi, giản dị. Tiểu đội tôi ở trong nhà bác Ba trạc tuổi 50, nhà hơi nhỏ không đủ chỗ cho cả tiểu đội 12 người. Bác che thêm rạp trước sân và trải đăng ra nền đất làm chỗ ngủ cho chúng tôi. Chúng tôi áy náy không dám dùng. Vì nguồn sống chính của gia đình là làm ruộng và đi đăng bắt cá, tôm để ăn và bán (đăng là một phương tiện đánh bắt tôm, cá phổ biến của người dân Đồng bằng sông Cửu Long), nhưng bác Ba sẵn sàng đem ra lót cho bộ đội ngủ. Anh em tìm cách từ chối, nhưng bác Ba ra lệnh: “Tao bảo là phải nghe, xương máu tụi bây không tiếc; tao chỉ 5 - 7 tay đăng nhằm nhò gì? Phải giữ gìn sức khoẻ để còn chiến đấu lâu dài nghe hôn”. Rạp che xong, đăng đã trải sẵn trên nền đất, không còn cách nào từ chối tấm chân tình của chủ nhà, anh em chúng tôi đành phải chấp hành “mệnh lệnh” của bác Ba.
Tuy mới tiếp xúc, nhưng cả gia đình bác Ba tiếp đón chúng tôi rất ân cần, chu đáo, coi anh em như con cháu đi xa về. Những ngày trú quân trong nhà bác Ba, được bác gái và các anh chị con của hai bác rất vui vẻ, niềm nở, chân tình. Ngày nào gia đình bác cũng cho anh em tiểu đội thức ăn tươi như: tôm, cá (gia đình bắt được), rau xanh trong vườn,… và tạo điều kiện tốt nhất có thể cho chúng tôi - những người lính cụ Hồ còn nhiều thiếu thốn, nhưng tinh thần thì dư giả! Anh em ái ngại không nhận, rồi bác Ba lại “ra lệnh…!”, chúng tôi buộc phải “chiều theo ý” của chủ nhà.
Thời gian ở nhà bác Ba không lâu lắm nhưng cũng đủ để chúng tôi cảm nhận được tình cảm của gia đình dành cho bộ đội - tình cảm quân dân cá nước. Nghĩ lại càng thấy dân mình tốt quá!, đi tới đâu, bộ đội cũng được tiếp đón, giúp đỡ, đùm bọc. Thầm nghĩ những người lính cụ Hồ như chúng tôi khi bước chân xuống tàu đi tập kết phải cố gắng làm được điều gì đó cho dân mình. Những ngày tháng được bác Ba và gia đình giúp đỡ, chúng tôi không khỏi bồi hồi xúc động. Anh em ngồi nói chuyện vui với nhau mới đặt tên cho bác Ba là “Ông già ái binh” (tức thương lính).
 Trong những ngày ở thị trấn Cao Lãnh, tiểu đội tôi được phổ biến đi đắp mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sanh Huy - thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng khi ra tới nơi thì các đơn vị đến trước đã làm xong, chúng tôi tiếc mãi vì nghĩ đây là một việc làm rất có ý nghĩa trước khi rời Cao Lãnh.
Cạnh nhà “Ông già ái binh” có dì Tư Nương - một người phụ nữ Cao Lãnh đôn hậu. Trong những ngày tập kết ở đây, tôi và một số anh em không liên lạc được gia đình nên lãnh đạo đơn vị trích quỹ do bán trại Tăng gia có được cấp cho mỗi người 100 đồng tiền Đông Dương để may đồ mặc đi tập kết, vì quần áo nhiều năm đi kháng chiến cũ, rách. Thấy tôi không có người thân tiễn chân, biết được hoàn cảnh của tôi, quê ở bên kia sông Tiền, lại mồ côi cha mẹ từ nhỏ, có ba anh em đi kháng chiến hết trơn, mỗi người một nơi, không biết còn sống hay đã hy sinh? Nên dì hỏi rồi trầm ngâm nói: “Con hổng còn cha mẹ, vậy làm con nuôi dì đi?”. Tôi vô cùng xúc động và cảm thấy rất vui, vui vì được người dân cảm thông với hoàn cảnh của mình, vui vì được làm con nuôi của dì. Không chần chừ, suy nghĩ gì nữa, tôi nhận ngay “nếu được vậy con rất mừng, cám ơn má!”. Dì Tư biết được ngày 14 tháng 10, đơn vị tôi xuống tàu nên khoảng 11 giờ ngày 13 tháng 10, gia đình dì làm bữa cơm, hay có thể nói là tiệc liên hoan để đãi cả tiểu đội trước ngày chia tay. Hôm đó có Hội Mẹ chiến sĩ đến dự và cho chúng tôi rất nhiều quà, bánh, trái cây.
Đối với tôi mà nói, tấm lòng của người dân Cao Lãnh trong những ngày chờ xuống tàu đi tập kết không bao giờ phai mờ trong tâm trí. Tôi luôn ghi nhớ những tình cảm, nghĩa cử người dân đã dành cho mình và đồng đội trong suốt những chặng đường đã qua… Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Bắc Nam thống nhất, tôi đã trở lại nơi đơn vị đóng quân năm xưa nhiều lần để tìm “ông già ái binh”, tìm người mẹ nuôi và thăm lại bà con - những người đã từng đùm bọc, giúp đỡ bộ đội trong những ngày tập kết. Nhưng mọi thứ đã thay đổi quá nhiều, người thì qua đời, người thì chuyển đi nơi khác, hỏi thăm nhưng không ai biết. Chỉ biết dì Tư đã qua đời do bệnh, còn gia đình đi đâu không rõ. Thị trấn Cao Lãnh, tỉnh Long Châu Sa ngày nào và thành phố Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp hôm nay khác xa nhau hoàn toàn. Nếu như cách đây gần 60 năm, thị trấn Cao Lãnh chỉ mấy mươi căn nhà thấp thoáng thì nay, nhà tầng mọc lên san sát, đường phố láng nhựa thênh thang, xe cộ qua lại tấp nập… tất cả đã “thay da đổi thịt”. Không tìm được bà con năm xưa đã hết lòng vì bộ đội, vì anh em chúng tôi, tôi chỉ còn biết đi chậm rãi lang thang trên đường phố Cao Lãnh để ngắm nhìn thành phố trẻ đang vươn mình phát triển, thăm lại bến sông Cao Lãnh, nơi diễn ra sự kiện lịch sử mang đậm dấu ấn một thời sôi động - dấu ấn tập kết - cách đây gần 60 năm về trước!.
12. 13 NGÀY VÀ 13 NĂM
Đại tá Hồ Hiển Vinh
         
Khi Tiểu đoàn 307 được thành lập, tôi cùng 32 học viên khóa 5 trường Quân chính Khu 8 được đưa về đây và Tiểu đoàn 307 làm lễ xuất quân tại xã Đại Điền, huyện Thạch Phú, tỉnh Bến Tre ngày 5-7-1948. Sau đó tôi được chuyển về Tiểu đoàn 305. Tiểu đoàn 305 thường đóng quân ở xã Hòa Nghị, huyện Đồng, tỉnh Định Tường (nay là xã Bình Nghị, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang).
          Năm 1953, đơn vị đóng ở đây, nhiều lần tôi và anh em thấy một cô gái mãnh mai, mái tóc dài suôn mượt, nước da trắng, đôi mắt bồ câu đen láy, vẻ mặt hiền lành, đi qua cầu. Anh em trêu chọc, gán ghép cô ấy với tôi. Tôi chưa suy nghĩ gì nhưng cũng thấy thích thích.
          Đó là cô Lê Thị Duyên, con gái thầy giáo Đồng, quê tại xã Hòa Nghị nầy. Một lần Tây xuống đốt nhà thầy giáo Đồng. Ông bị bọn theo Tây bắt, nhưng ông nhảy xuống sông chạy thoát. Sau đó gia đình ông ra chợ Gò Công mướn nhà ở.
          Một chuyện tình cờ giống như duyên số là cùng đơn vị với tôi có anh rể thứ năm của Lê Thị Duyên. Tôi thường ra nhà thăm chị Năm. Thấy tôi người khỏe mạnh, hiền lành, vui tính, hay ca hát, chị Năm có cảm tình với tôi. Một hôm chị Năm về nhà nói với Duyên:
- Em cho chị mượn tấm hình, ít hôm chị trả ?
- Chị mượn làm gì, em không cho đâu!
          - Thôi năn nỉ mà! Chị muốn đem vô đơn vị cho anh Năm, anh Bảy coi. Chị hứa trả liền.
          Thấy chị Năm năn nỉ, Duyên đồng ý cho mượn tấm hình chụp năm 18 tuổi. Chị Năm về đơn vị đưa tấm hình cho tôi xem.Tôi hỏi:
- Có phải cô em chị trước ở xã Hòa Nghị không ?
- Đúng rồi! Cậu đã gặp rồi à ?
- Em nhìn thấy mấy lần khi em chị qua cầu nhưng chưa được nói chuyện lần nào.
- Vậy cậu có muốn làm em rể tôi không ? Để tôi nói giúp cho.
- Chị cho em tấm hình nầy nghen.
- Không được đâu. Tôi cho mượn thôi.
          Chị nói vậy nhưng tôi giữ luôn tấm hình.
          Chị lại nhận tấm hình của tôi đem về cho em gái coi. Kèm theo tấm hình, tôi gởi bức thư nhỏ cho Duyên, nói đại ý: Nếu thuận lợi em vào thăm các anh!
          Ngỡ chỉ là tình bạn, là kỷ niệm giữa hai người trai gái vậy thôi, nào ngờ nó dẫn đến kết quả ly kỳ .
          Tháng 7 -1954, Hiệp định đình chiến ở Đông Dương được ký kết tại Genève. Tôi có tên trong danh sách Tiểu đoàn 309 tập kết ở khu vực Đồng Tháp Mười, xuống tàu ở Cao Lãnh đi ra Bắc. Tiểu đoàn 309 đến sông Vàm Cỏ Tây rồi đến đóng quân ở xã Đốc Binh Kiều, trên bờ kinh Nguyễn Văn Tiếp A.
          Má tôi đã lặn lội tìm đến thăm tôi và đốc thúc tôi cưới vợ. Má nói:
          - Vinh à, má phải cưới vợ cho con. Con có ưng cô giáo Phụng không? Người ta chịu rồi đó. Con ưng, má sẽ dẫn Phụng vô.
          - Vậy là trước khi tìm đến thăm tôi,  má tôi đã thuyết phục cô giáo Phụng nào đó và cô cũng đồng ý. Tôi cười nói để thối thoát.
          - Con chưa lấy vợ đâu má!
          Má tôi ngạc nhiên:
- Sao vậy? Con sắp đi xa. Ba má đều già rồi. Con không cưới vợ, ba má không yên lòng. Con không ưng cô Phụng, má hỏi cho con cô khác được không?
Nghe má nói câu nầy tôi phải nói thật:
          - Má ơi, nếu má muốn cưới vợ cho con thì má xuống Gò Công, tìm nhà ông thầy giáo Đồng coi mắt cô Duyên.
          Nghe tôi nói vậy và tôi đưa tấm hình Duyên cho má coi, má tỏ vẻ hài lòng. Má Tư là mẹ chiến sĩ ở xã Đốc Binh Kiều đã sẵn sàng đưa má tôi đến nhà ông giáo Đồng ở chợ Gò Công .
          Khi hai má tới nhà ông giáo Đồng trình bày ý nguyện, thì nhận được câu trả lời của ông:
          - Con tôi còn nhỏ quá, tôi chưa muốn gã!
          Nghe câu nói nầy má tôi thất vọng, vì không còn thời gian cưới vợ cho tôi, ngày xuống tàu tập kết ra Bắc gần tới rồi! Má Tư chiến sĩ vẫn kiên trì:
- Ông giáo sợ cháu còn nhỏ chưa gã thì hứa một lời cho chúng tôi yên tâm.
          Ông giáo Đồng vẻ tư lự, không nói gì. Má tôi và má Tư đành nghỉ lại một đêm để mai bàn tiếp. Đâu đó Duyên biết chuyện, nói với ba và cho ba xem tấm hình của tôi. Ông không tỏ ý gì phản đối.
          Sáng hôm sau, ông có thái độ cởi mở hơn:
          - Thôi, yêu cầu của hai chị tôi hứa, nhưng nó còn nhỏ để từ từ.
          Hai má nghe nói vậy cũng mừng, không dám nói gì nữa, nên xin  phép ra về.
          Mấy hôm sau, má tôi và má Tư lại xuống chợ Gò Công lần nữa. Má Tư vào đề luôn:
          - Hiệp định thi hành rồi. Thằng Vinh sắp đi tập kết ra Bắc. Ông cho hai đứa kết hôn đi. Cô Duyên nhà ông và cậu Vinh nhà tôi thật đẹp đôi, đúng là trai tài gái sắc. Ông cứ ừ một tiếng cho con trẻ mừng.
          Má tôi nói thêm:
          - Thằng Vinh nhà tôi đi tập kết có hai năm thì về, không lâu đâu. Ông giáo cứ an tâm, gia đình chúng tôi sẽ lo cho cháu Duyên.
          Thấy hai má nói những lời tâm huyết như vậy nên ông giáo Đồng đồng ý cho tôi và Duyên được kết hôn.
          Tháng 8 -1954, chính thức làm lễ cưới, tại nhà gái có ba má tôi đến dự. Có ông bác sĩ chí cốt của thầy giáo Đồng cũng đến chung vui. Họ hàng nhà gái có mấy người chị của Duyên và bà con. Đám cưới trong bầu không khí đất nước được hòa bình, vui tươi, đầm ấm, song thiếu chú rể là tôi, vì Gò Công còn trong vùng kiểm soát của Liên hiệp Pháp .
          Sau lễ tổ chức ở nhà gái, ba má tôi và bà con đằng trai rước dâu bằng xuồng máy, đưa cô dâu về xã Đốc Binh Kiều, nơi Tiểu đoàn 309 của tôi đóng quân.
          Xuồng rước dâu về tới nơi thì đã chạng vạng tối, phải đốt đèn. Xuồng cặp bến.Tôi bước xuống cầu bến. Thấy tôi, má liền nói với Duyên:
          - Nó đó, thằng Vinh đó, con lên đi.
          Tôi cất tiếng chào ba má và mọi người, rồi đưa tay cho Duyên nắm dắt lên.
          - Em lên đi!
          Duyên nắm tay tôi. Duyên nhìn tôi, bẽn lẽn. Tôi vui vẻ, ngọt ngào:
          - Lên đi em. Anh dẫn em lên nhà!
          Trên bờ đã có hàng chục anh em cầm đèn đón, nhìn cô dâu đang e thẹn. Đưa Duyên vô nhà, tôi ra đón ba má của Duyên cùng bà con đằng gái lên.
          Đám cưới được tổ chức theo đời sống mới rất đông vui. Có một số cán bộ, chiến sĩ của Tiểu đoàn 309, bà con họ hàng bên trai và cả bà con mấy nhà nơi tôi đóng quân, có ba má và mấy người chị của Duyên cùng tham dự. Chỉ bánh nước đơn giản nhưng đám cưới rất vui. Anh chị em thi nhau ca hát và nói lời chúc mừng hạnh phúc cô dâu chú rể. Theo dõi cử chỉ và lời nói của tôi, ba của Duyên gật gù, hài lòng khen:
          - Thằng nầy vui vẻ quá.
          Lễ cưới bế mạc, tôi lo phân công, bố trí chỗ ngủ cho mọi người. Xong, tôi mới nói nhỏ với Duyên:
          - Em đi theo anh!
          Duyên ngây thơ hỏi lại:
          - Đi đâu anh ?
          Tôi dắt tay Duyên dẫn đi, vừa nói:
          - Mình đi ngủ. Tuốt ngoài kia, có mùng, có khăn, bàn chải đánh răng đầy đủ, em yên tâm.
          Tôi dắt Duyên đi qua miếng ruộng, qua mấy cái mương đến “Căn lều hạnh phúc”. Đó là cái chuồng trâu cũ, tôi đã quét dọn sạch sẽ, trải đệm rơm lên nền.
          - Chúng ta ngủ ở đây. Em cầm đồ, anh châm đèn!
          Khi ngọn đèn sáng lên, Duyên nhìn cái tổ ấm không giống chút nào phòng ngủ ở nhà mình. Không gian bốn bên yên lặng như tờ.
          Đêm đó, tôi hát cho Duyên nghe mấy bài tình ca bằng tiếng Pháp, rồi rì rầm tâm sự suốt đêm.
          Sáng ngày 02/9/1954, kỷ niệm Lễ Độc lập của nước Việt Nam được tổ chức trọng thể ở chợ Thiên Hộ. Tôi đưa má tôi và Duyên đến nơi đóng của lãnh đạo đơn vị để giới thiệu. Đồng chí Chánh trị viên đại đội nồng nhiệt chúc mừng hạnh phúc của chúng tôi.
          Qua 13 ngày, tôi và Duyên sống bên nhau đầm ấm, ngập tràn niềm vui và hạnh phúc. Đến lúc Duyên phải trở lại gia đình, tiếp tục làm nhiệm vụ của một cô giáo. Hôm chia tay, Duyên cố làm ra vẻ bình tĩnh nhưng không giấu được nỗi buồn. Trời sẩm tối, mọi người bước xuống xuồng. Tôi cầm đèn rọi theo. Duyên khóc. Má tôi cũng khóc. Trái tim tôi như bị ai bóp chặt. Tôi thẩn thờ đứng nhìn theo chiếc xuồng dần khuất dạng.
          Theo sự sắp xếp, hôm đó Duyên về nhà chồng, tức nhà ba má tôi ở Tân An chơi một hôm. Hôm sau Duyên lại về Gò Công dạy học. Tôi đã giữ lại chiếc áo của Duyên mặc đêm Tân hôn, mang theo làm kỷ niệm.
          Qua tháng 10/1954, Tiểu đoàn 309 hành quân ra Cao Lãnh và xuống tàu đi ra Bắc. Qua học Hiệp định Genève và chủ trương mới của Đảng, tôi và cả đơn vị đều an tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, song mỗi người có cuộc sống riêng, người có vợ, có con, có cha mẹ đến thăm và đưa xuống tàu, người chưa vợ, người mới cưới vợ như tôi… đều có nỗi niềm riêng, tâm trạng khác nhau. Giây phút rời bến xuống tàu, nhìn lên hàng ngàn người đưa tiễn, người vui vẻ chúc bình an, người khóc sụt sịt, bịn rịn giơ hai ngón tay, vẫy khăn, vẫy nón chào nhau. Tôi ước gì có Duyên trong số những người tiễn đưa nầy. Duyên đang ở tận Gò Công, xa lắm! Xuống tàu rồi, tàu đã chạy mà hồn tôi gởi hết về Duyên.
          Ra đất Bắc, tôi da diết nhớ Duyên, người vợ trẻ đẹp mới cưới, sống gần nhau chỉ có 13 ngày, giờ phải xa nhau đến hai năm. Những năm đầu tôi gởi bưu thiếp về Duyên. Nhưng không lâu sau, chánh quyền Diệm ở Sài Gòn cắt đứt quan hệ bình thường Bắc Nam, chấm dứt việc gởi bưu thiếp cho nhau. May quá, tôi có người bạn có người anh bà con ở Nam Vang, qua địa chỉ này tôi nhờ anh chuyển thư tôi về miền Nam cho Duyên. Nhờ có con đường bí mật đó, tôi và Duyên gởi thư được cho nhau,  biết tin tức của nhau. Qua thơ của Duyên tôi biết Ba của Duyên đã qua đời năm 1958.
          Sau đó, địa chỉ liên lạc nầy bị lộ, tôi và Duyên phải sống những ngày chờ đợi, âm thầm thương nhớ nhau. May quá, khi tôi đóng quân ở huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa,  có quen một gia đình có chồng ở bên Nhật. Qua sự đồng ý của người chồng bên Nhật tôi viết thơ cho Duyên và nhờ ông gởi cho Duyên. Vậy là Duyên nhận được thơ của tôi và cũng qua con đường này Duyên gởi thư cho tôi.
          Mỹ Diệm không thi hành Hiệp định Genève, không có tổng tuyển cử thống nhất Bắc Nam. Tin tức Mỹ Diệm tàn bạo kềm kẹp đồng bào miền Nam càng làm cho chúng tôi nóng lòng trở về Nam trả thù cho đồng bào, cho người thân. Sư đoàn 338 chuẩn bị đưa cán bộ chiến sĩ vào Nam. Tôi hăm hở nghĩ sắp có ngày được về Nam, được gặp lại Duyên. Nhưng năm 1963, tôi được đưa về làm Chánh trị phó trường Huấn luyện hạ sĩ quan, tức diện A, không được đưa vào diện đi B, tức vào Nam. Thời gian sau, Cục cán bộ miền Nam chọn vét 70 cán bộ chuẩn bị đi B. Năm 1965, tôi được luyện tập hành quân để vượt Trường Sơn.Trước đêm chuẩn bị lên đường về Nam, tôi náo nức, nghĩ đến Duyên, rồi tôi sẽ về đến miền Nam, gặp gia đình, gặp Duyên. Bất ngờ lúc nửa đêm, tôi được lệnh Sư đoàn trả hết trang bị đi B, đi ngay trong đêm về Hà Nội mà không rõ lý do. Tôi vội vã lấy tấm hình tôi mới chụp, nhờ các đồng chí về Nam tìm gởi cho Duyên.
          Ra Hà Nội, tôi được ông Tư Văn, Cục phó Cục Tình báo phổ biến học nghề tình báo. Tổ chức phân công tôi phải chấp hành. Gần một năm huấn luyện và thực tập, tôi được giao kế hoạch chuẩn  bị vượt Trường Sơn vào Nam tham gia mạng lưới tình báo Miền. Nhưng lại chuyển hướng đi, tôi được lệnh trả hết trang bị đi Trường Sơn, ra Hải Phòng tập đi biển. Vậy là tôi phải tập chèo thuyền, tập lái thuyền, ganh thuyền trong những ngày mưa và cả những ngày biển động.
          Khoảng 15 giờ ngày 01-5-1967 bắt đầu cuộc hành trình. Thuyền có nhiệm vụ đưa tôi - Đại úy Hồ Hiển Vinh với tên mới Năm Sản tình báo viên vào Nam.
          Vậy là hơn một tháng trời lênh đênh trên biển, gặp phải một trận bão to, phơi mình cho máy bay Mỹ dòm ngó, tàu Mỹ cặp lên thuyền khám sổ ghe, điểm danh từng người, rồi chiếc Ngọc Hồi Tuần dương của ngụy, có tổ mật vụ, thả cần cẩu cho tên mật vụ lên thuyền kiểm tra… Mấy lần thiếu nước ngọt phải vào bờ lấy nước ngọt, cuối cùng chi bộ dưới thuyền quyết định đưa tôi lên bờ ở Nha Trang. Cuộc chia tay giữa tôi với các anh em trên thuyền thật cảm động tuy rất ngắn gọn. Anh em ôm tôi siết tay, chúc tôi lên đường từ Nha Trang vào Sài Gòn bình an .
          Đến bến xe đò, tôi vô tiệm hớt tóc. Với quần tây đen, áo sơ mi trắng, đi giầy đen, tay xách cặp táp, tôi ra dáng một nhà buôn hải sản cỡ bự. Từ đây tôi phải tự biên, tự diễn, tùy cơ ứng biến, vào vai mới sao cho nhập vai, tránh bỡ ngỡ, ngờ nghệch dễ bị bọn mật vụ nhan nhản ở bến xe hồ nghi, theo dõi. Tôi vào chợ sắm thêm mấy bộ quần áo, đồng hồ, dao cạo râu và mấy gói thuốc lá ngon bỏ vào cặp táp. Mỗi khi qua đồn bị cảnh sát xét giấy tờ, tôi làm ra vẻ tay làm ăn lớn, móc thuốc lá hạng sang ra mời, nên suốt cuộc hành trình từ Nha Trang đến Sài Gòn đều trót lọt.
          Vào tới Sài Gòn, đây mới thật sự là trận địa chính hoạt động tình báo của tôi. Sau 13 năm xa cách, Sài Gòn đã đổi thay nhiều, lạ lẫm. Tôi kêu xe xích lô đi đến nhà ông chú. Sau bữa cơm trưa, tôi nói với chú thím là tôi có đủ giấy tờ hợp lệ, đi lại bình thường, chú thím khỏi phải lo. Bà thím tiết lộ bí mật là đã cho các em về quê đón Duyên lên, cỡ chiều nay Duyên lên tới. Tôi vui mừng cảm ơn thím.
          Khoảng 16 giờ, Duyên tới. Tôi chạy ra cửa. Nhìn thấy tôi, Duyên xỉu luôn. Tôi đỡ Duyên lên giường. Tôi vuốt ve tóc Duyên, gọi nhỏ:
          - Duyên ơi! Anh đây, chồng của em đây!
          Tôi hôn lên trán Duyên. Giọt nước mắt của tôi rơi xuống trán Duyên làm Duyên tỉnh ra. Duyên chớp chớp mắt sung sướng ôm lấy tôi, miệng thì thào:
          - Anh ! Anh Năm Vinh …
          Nước mắt của cả hai thấm đẫm vào nhau. Tôi nhìn Duyên. Thấm thoát đã 13 năm qua. Lúc cưới nhau và chia tay nhau, Duyên 19 tuổi, nay Duyên đã là người phụ nữ đứng tuổi, đã 32 tuổi rồi. Tôi ôm Duyên, quý mến người vợ hiền chung thủy suốt 13 năm trời trong sự kềm kẹp, đàn áp khốc liệt của kẻ thù.
          Kể từ hôm đó, Duyên là tấm bình phong, đưa tôi đi khắp Sài Gòn, quan sát nắm một số địa điểm quan trọng các cơ quan của Mỹ và chánh quyền Sài Gòn. Từ đó, tôi vào cuộc và dẫn dắt Duyên theo con đường tình báo, cùng tôi vượt qua bao gian khổ, hiểm nguy, lập nhiều chiến công, góp phần vào cuộc giải phóng Sài Gòn ngày 30 - 4 - 1975 của quân dân ta./.

13. VỚI TÔI, NGÀY ĐÓ MÃI CÒN ĐÂY
                                      Ông Nguyễn Văn Khải kể
                                                Hữu Nhân ghi
 
          Tôi sinh năm 1936 trong một gia đình bần nông ở Cái Tàu Hạ, tham gia bộ đội địa phương từ năm 17 tuổi. Năm sau thì được rút về tiểu đoàn 311. Tháng 7/1954, đơn vị tôi đang tham gia chiến dịch truy quét lực lượng Hòa Hảo ở Phú Châu (An Giang) thì nhận được lịnh ngừng bắn và rút quân về Ba Sao. Ở đây chúng tôi được giao nhiệm vụ đón tướng Trần Văn Trà và Bộ Tư lịnh khu 7 từ Cái Bèo về Kinh Bùi. Lần đầu tiên qua vùng đất này, tôi mới biết thế nào là nước phèn. Cái thứ nước gì mà trong xanh, nhìn thấu tận đáy mà uống vô thì chát ngắt cả cổ họng. Nhiều anh em khát, thấy nước trong múc uống nhưng ai cũng lắc đầu vội vàng phun ra như uống phải thuốc Bắc. Đó có thể xem là kỷ niệm đầu tiên của tôi về Đồng Tháp Mười mà mãi sau này hơn hai mươi năm đăng đẵng tôi mới có dịp chạm tay vào nước phèn lần thứ hai.
 Tập kết ! Ai quên nhớ thể nào thì không biết chớ với tôi thì những ngày đó, tôi nhớ rõ mồn một như mới vừa xảy ra vài năm nay. Bởi lẽ nó là một trong những bước ngoặc lớn của đời mình. Hơn thế nữa, nó còn là những ký ức đẹp về tình cảm đồng bào, đồng chí, đồng đội. Tháng 8/1954, đơn vị tôi từ Phong Mỹ di chuyển về Tân Thuận Tây. Trước khi chuẩn bị về nới đóng quân mới, Ban chỉ huy tiểu đoàn đã sinh hoạt trước với toàn đơn vị về tình hình nơi ở mới. Tân Thuận Tây lúc đó có một số bà con theo đạo Hòa Hảo. Những tín đồ này phần lớn là người tốt nhưng dễ bị lôi kéo và lợi dụng. Vì vậy khi sống với bà con ta vừa đề cao cảnh giác nhưng cũng phải hết sức làm tốt công tác dân vận để bà con tin tưởng và thương yêu, đùm bọc cách mạng.
          Tôi và một hai anh em nữa được đưa về ở trong một gia đình ở gần Chợ Cũ. Chợ hồi đó chỉ có một cái nhà lồng ọp ẹp. Xung quanh chỉ khoảng hơn chục tiệm quán mua bán nhỏ lẻ. Cảnh chợ quê chủ yếu mua bán, trao đổi với bà con xung quanh nên cũng chẳng có gì gọi là sung túc lắm. Tuy nhiên, được cái là dân mình rất coi trọng bộ đội. Sáng nào cũng vậy, đơn vị tôi tổ chức chào cờ thì bà con cũng nghỉ bán ra đứng xếp hàng chào cờ chung với chúng tôi. Tổ của tôi có 3 người. Ăn có chế độ riêng nhưng được xem như con em trong nhà. Vì vậy, chúng tôi cũng rất cẩn thận từng nết ăn nết ở.Gia đình có gì thì cũng mời chúng tôi ăn. Thậm chí, xung quanh nhà nào có đám giỗ cũng đến mời bộ đội dự. Tình cảm quân dân gắn kết như cá với nước. Chỉ một tháng sống ở đây, những tị hiềm, mặc cảm, ngăn cách giữa bộ đội và bà con gần như không còn nữa.
          Hàng ngày, ngoài việc sinh hoạt, học tập chính trị và đường lối, chủ trương trong tình hình mới ; chúng tôi còn được học cách ăn nói, sinh hoạt theo phong tục, tập quán miền Bắc để khi ra đó khỏi bỡ ngỡ. Chiều, anh em tụ tập các em nhỏ lại tổ chức dạy ca hát. Rảnh rỗi, thì tham gia sửa đường, bắc cầu giúp bà con. Sống chan hòa hết mình với bà con nhưng phải giữ ý giữ tứ từng chút một. Thấy phụ nữ đi qua cũng không dám dòm thẳng. Nhà có phụ nữ cũng không được nhìn vào cửa buồng. Ăn nói phải cẩn thận từng lời. Chúng tôi làm mọi việc với mục đích vô tư, không hề nghĩ ngợi gì. Tất cả chỉ với mong muốn trước khi đi mình để lại cho bà con những ấn tượng đẹp về anh bộ đội cụ Hồ.
          Thấy chúng tôi sống hết tình hết nghĩa không hề so đo, tính toán nên bà con cũng đối đãi hết mực chân thành. Thanh niên nam nữ trong xóm rủ nhau xúm lại chẻ trúc đan nón theo kiểu nón nan tặng cho bộ đội. Một số chị em khéo tay lấy chỉ thêu kết ngoài đồng xu đỏ thành những ngôi sao thật đẹp gắn lên nón. Mỗi người chúng tôi, ai cũng có một kỷ vật như vậy để mang ra miền Bắc. Nói về kỷ vật mang từ miền Nam ra Bắc, chợt nhớ hồi ấy khi ra miền Bắc ngoài kỷ niệm về quê hương, gia đình, anh em, bạn bè ; tôi còn mang theo trong trái tim mình một chút tình càm trai gái vừa chớm nở. Số là, trong gia đình tôi đóng quân có một cô con gái khoảng 16, 17 tuổi. Gần 3 tháng ở đó, tuy thỉnh thoảng có gặp nhau vài lần nhưng chưa ai nói với ai lời nào. Vậy mà bữa chúng tôi chuẩn bị đi, cô gái vội vàng giúi vào tay tôi một cái khăn rằn và một cái quần đùi với lời chúc đi bình yên. Chiếc nón nan và hai món quà của cô gái Tân Thuận Tây đó được tôi cất giữ cho đến năm 1960 mới bị cháy trong một trận máy bay Mỹ ném bom đánh phá miền Bắc. Giờ nghĩ lại thấy tiếc vô cùng. Ngôi nhà tôi ở khi đó tại Chợ Cũ là một ngôi nhà phía trước bán tiệm tạp hóa nhỏ. Mọi người quen gọi là thím Hai, còn có một người con trai khoảng 7,8 tuổi chừng như là tên Thắm. Cô gái kia, thường gọi là cô Hai mà lúc đó vô ý tôi cũng chẳng kịp hỏi tên. Mãi sau năm 1975, tôi có dịp trở lại đây thì mọi thứ thay đổi khiến tôi không còn nhận ra nơi mình đóng quân hồi đó. Hỏi thăm, ai cũng lắc đầu. Đúng là chiến tranh khắc nghiệt thật !
          Ngày 23/10/1954, đúng 3 giờ sáng chúng tôi nhận lệnh hành quân ra bến Bắc Cao Lãnh để chuẩn bị lên tàu. Đêm đó, tôi còn nhớ trời mưa rúc rắc. Đường lầy lội, anh em phải dò dẫm từng bước. Khoảng đâu cuối tháng 9 âm lịch, trời không trăng. Phải đi trong màn đêm ẩm ướt nên khi ra tới Bắc Cao Lãnh phải mất gần 3 giờ đồng hồ. Chờ đến 10 giờ thì được lên tàu. Mệt nhưng nhìn nhìn xung quanh có đến hàng ngàn bà con Cao Lãnh ra đưa tiễn chúng tôi nên tự nhiên trong lòng tuy có bùi ngùi nhưng cũng thấy vui vui.
          Ai cũng vẫy ta hẹn hai năm gặp lại khiến ngày ra đi của chúng tôi và ngày về chừng như không xa lắm !
          Tôi lên tàu với hành lý mang theo là một bộ đồ vải ta nhuộm rau dừa, một bộ độ bộ chính quy theo kiểu thời đó, một khẩu súng trường Mas. Lương thực thì chủ yếu là lương khô, bánh tổ, bánh bich-quy và sữa hộp có đường đã luộc chín. Con tàu há mồm của thằng Tây trog chốc lát đã nuốt gọn một hơn khoảng 300 con người chúng tôi và lặng lẽ rời bến Bắc Cao Lãnh với những hồi còi súp lê vô hồn vô cảm khiến tôi và hẳn những ai hồi đó đang ở trên tàu như tôi cảm thấy trong lòng xốn xang. Chúng tôi ngồi bệt xuống sàn tàu. Tụm lại thành nhóm đờn ca, hát hò suốt từ Cao Lãnh ra Vũng Tàu. Những người lính Việt theo Tây ngồi trên mui xem chúng tôi ca hát. Mấy tên chỉ huy người Tây thì tỏ vẻ không quan tâm lắm nhưng thái độ của họ cũng rất thân thiện.
  Hai năm không dài nhưng với tôi lúc đó đây là lần đầu tiên trong đời mình đi xa nhứt, đi bằng tàu biển, đi lênh đênh giữa trời nước mênh mông nên trong lòng trào lên những cảm xúc không sao nói được. Nhứt là khi tàu chạy ngang Mỹ Thuận, nhìn về hướng Cái Tàu Hạ thấy cột dây thép bưu điện thấp thoáng trên trời trong lòng tôi bỗng nhiên nhớ nhà, nhờ quê, nhớ chị và má tôi vô cùng. Lúc đó, tôi xúc động đến muốn ngất xỉu. Mờ sáng hôm sau, tàu mới ra tới Vũng Tàu. Ba tàu Tây lên một tàu “ta”. Tàu “ta” chở chúng tôi là loại tàu hàng của Ba Lan. Trên sàn tàu đóng nhiều sạp bằng gỗ thông còn hăng hăng mùi nhựa. Mỗi trung đội vô một sạp nằm đỡ vài ngày. Hình như đây là tàu chở đậu nành. Vẫn còn thấy nhiều hạt đậu nằm kẹt lại trong các khe hở của những song sắt trên tàu.
          Ba ngày trên biển, say sóng không thể tưởng. Ăn cái gì cũng muốn ói ra. Trung đội tôi lại nằm gần mũi tàu nên say sóng còn nặng hơn. Nhưng kỷ luật quân đội mà, ai được phân công ở đâu thì ở đó. Muốn thay đổi cũng không được. Ăn chỉ rặt ba thứ lương khô cầm hơi. Thèm cơm vô cùng nhưng cũng đành chịu. Trên tàu, anh em cũng có đem gạo theo nhưng không cách gì nấu được. Ngày 1 tháng 11 năm 1954, tàu tới Sầm Sơn (Thanh Hóa). Tôi nhớ khi đó nhằm lúc triều xuống, nước biển cạn nên chỉ đậu ngoài xa, cách bờ áng chừng 3 cây số. Mừng quá, chúng tôi hò reo inh ỏi rồi quăng hết lương khô xuống biển, chờ mấy o Thanh Hóa đem thuyền ra rước vào bờ.
          Đến nơi mới hay bà con mình ở đây vẫn còn nghèo lắm. Ăn còn độn khoai lang, khoai mì nhưng sẵn sàng nhường cơm cho chúng tôi. Nhớ lại những thực phẩm và cả gạo nữa mấy ngày trước mình vứt xuống biển mà lòng tiếc hùi hụi. Giận hóa mất khôn đã đành. Đằng này, mừng hóa cũng mất khôn. Lên bờ, cơm nước xong chúng tôi đi bộ một ngày một đêm về Hậu Lộc. Ăn cơm ở miền Bắc mà thấy sao toàn món miền Nam, nấu hệt mùi vị, kiểu cách miền Nam. Hỏi ra mới biết ở đây đã tập trung cả trăm chị em học nấu ăn theo Nam bộ suốt cả tháng trời để đón chúng tôi. Thiệt là cảm động vô cùng.
          Những năm tháng ở miền Bắc với tôi là “ngày Bắc, đêm Nam”. Hai năm rồi ba năm, năm năm và cuối cùng là hai mốt năm đằng đằng chia ly, đằng đẵng chờ đợi, đằng đẵng khắc khoải mong ngóng tin tức từ miền Nam. Để rồi tin thắng trận ở miền Nam đến với tôi ngày ấy từng ngày, từng ngày như muốn vỡ tung lồng ngực. Tôi còn nhớ ngày 10/3/1975 khi đài báo chúng ta tấn công Buôn ma thuộc thì tất cả anh em miền Nam ở nông trường chăn nuôi bò sữa Ba Vì thức suốt đêm không ngủ được. Ai cũng tưởng ngày về miền Nam chỉ còn trong nay mai. Tự dưng, giờ kể lại chuyện này tôi chợt nhớ đến một người bạn mình ở chung đơn vị ngoài Bắc. Chiến tranh đã bày ra nhiều trò trớ trêu của số phận. Anh đi tập kết. Chị ở trong Nam tìm cách sang Campuchia, rồi qua Trung Quốc để đến được miền Bắc tìm anh. Tới nơi, thì mới hay tin anh đã đi B trước đó ba tháng. Vậy là lại Ngưu Lang, Chức Nữ tiếp tục. Mãi đến năm 1976, anh chị nghe đâu mới gặp được nhau. Đúng như nhà thơ Chế Lan Viên từng viết:
Ôi năm nào nửa vầng trăng anh cách trở nửa trăng em.         
Đến sông núi cũng chia làm hai nửa
Nay Tổ quốc đã rằm. Cơn hội ngộ   
Người đoàn viên mà dân tộc cũng đoàn viên.
          Nam Bắc giờ đã liền một dãy non sông. Với tôi – một trong những người từng chứng kiến cảnh đất nước phải chịu chia hai thì câu nói: Không có gì quý hơn độc lập tự do mà Bác Hồ đã để lại cho chúng ta hôm nay thật quý giá vô cùng.
14. HÃY ĐỢI ANH VỀ
Nguyễn Thanh Hồng kể,
Phạm Thị Toán ghi
 
Khi có lịnh ngừng bắn, tôi là lính đại đội 949 thuộc tiểu đoàn 311 từ trong căn cứ kinh Xáng Nguyễn Văn Tiếp A, kinh Ông Kho huyện Cao Lãnh được lịnh hành quân về Cầu Đúc, Cao Lãnh. Lúc này thị trấn Cao Lãnh vô cùng tấp nập, khắp nơi đâu đâu cũng thấy người. Bộ đội được bố trí ở trong dân, rải từ chợ Sáu Quốc chạy dài ra tới tận Tịnh Thới gần bến Bắc Cao Lãnh. Ngoài bộ đội còn có cha mẹ anh em, con cháu họ về đây đưa tiễn. Trước khi đến nơi đóng quân, các đồng chí chỉ huy đã sinh hoạt cho chúng tôi những qui định khi cùng ăn, cùng ở với dân. Không được tơ hào đến từng cái kim, sợi chỉ của dân. Và qui định này anh em chiến sĩ chúng tôi thực hiện rất nghiêm ngặt, hầu như không có người nào vi phạm.
Mỗi tiểu đội có từ mười một đến mười hai người. Tôi cùng tiểu đội với anh Thưởng, anh Huyên…. Đóng quân thì trong nhà dân nhưng việc ăn uống hàng ngày bộ đội tự đi chợ rồi về nấu. Tuy vậy, ở nơi đơn vị đóng quân, nhân dân đa phần còn nghèo nhưng rất thương bộ đội, khi có đồ ăn ngon, bà con lại múc cho bộ đội hay chừa lại cho những anh em đi hành quân chưa về kịp. Chúng tôi học chính trị, dọn vệ sinh xung quanh nơi đơn vị đóng quân, dạy trẻ em ca hát, dự những buổi mít tinh mừng hòa bình, được xem phim, xem văn công…, bà con cũng tham dự những sinh hoạt ấy rất đông. Ai cũng vui mừng, phấn khởi được sống trong hòa bình, tự do mà cách mạng đem lại cho nhân dân sau chín năm chống Pháp dù chỉ ít ngày ngắn ngủi.
Quê tôi ở rạch Cái Tôm, Tân Thuận Đông (Cao Lãnh). Mười hai tuổi tôi đã đi theo cách mạng. Khi còn nhỏ thì tham gia dân quân du kích của xã, lớn lên tôi được thoát ly vào bộ đội chủ lực của tỉnh đội Long Châu Sa. Do yêu cầu hoạt động, đơn vị phải di chuyển hết chỗ này tới chỗ khác. Khi tới ấp 1 xã Mỹ Tân thị trấn Cao Lãnh này tôi đã gặp một cô gái, sau đó nên vợ nên chồng với người con gái ấy khi tôi mới hai mươi hai tuổi và vợ tôi kém tôi một tuổi. Được lệnh đi tập kết, tuổi thanh niên tôi cũng rất háo hức muốn đi xa, được học hành, bay nhảy hy vọng sau này trở về sẽ tiến bộ nhưng mới cưới vợ có hơn năm. Nhìn vợ tôi cái bụng ì ạch, chỉ vài tháng nữa là sanh, tôi không nỡ. Cô ấy còn trẻ quá. Gia đình hai bên đều nghèo, khi vợ sanh đẻ biết nhờ cậy ai khi mình không có ở nhà?! Suy nghĩ giữa đi và ở làm tôi cứ đắn đo hoài…. Nếu quyết tâm ở lại, lên trình bày với chỉ huy có khi cũng còn hy vọng.
Thế nhưng, vợ tôi lại muốn tôi đi với lý do đi sẽ được nhà nước đào tạo, bồi dưỡng, bởi trước đó tôi đi làm cách mạng thì đi chớ chữ nghĩa thì ít. Ở lại - chiến tranh, làm sao mà học mà hành. Vả lại, đi có hai năm, quay đi quay lại rồi về thôi. Ở nhà cô ấy sẽ nhờ ba má hai bên trông coi lúc sanh nở. Vợ động viên mãi và cuối cùng tôi quyết định sẽ ra đi tuy trong lòng có nhiều lúc vẫn băn khoăn, lo lắng. Chỉ còn mười ngày nữa bộ đội xuống tàu, kết thúc khoảng thời gian một trăm ngày theo quy định của Hiệp định Genève giữa hai bên ta và địch, vợ tôi vừa đi xe lôi, vừa đi bộ từ nhà tới chỗ đơn vị tôi đóng quân, khệ nệ đem theo một cái tụng khá nặng nào bánh với trái cây đủ loại, những thứ cô tự làm và những loại trái cây ở ngay trong vườn nhà mới hái còn tươi nguyên. Hai vợ chồng trẻ được quấn quýt bên nhau trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy.
Nhớ lại, tôi rất xúc động và mang ơn bà con mình nơi đơn vị đóng quân trước khi chúng tôi xuống tàu và nhờ những kỷ niệm ấy cho tôi thêm sức mạnh để tôi vượt qua được tất cả những khó khăn sau này khi chúng tôi phải xa nhau đằng đẵng. Đúng là “quân và dân như cá với nước”. Không biết bà con có nghi ngờ khoảng thời gian hai năm không, hay nhìn những đôi vợ chồng hầu hết còn rất trẻ trên dưới hai mươi tuổi, mới cưới bịn rịn, chỉ ít ngày nữa thôi sẽ phải chia tay mà xót xa. Họ chẳng hề kiêng cữ hay cấm đoán khi cho vợ chồng người lạ ngủ với nhau ngay trong nhà mình, ngược lại luôn luôn tạo điều kiện thuận lợi nhất có thể, ở những chỗ sạch sẽ, kín đáo, để vợ chồng được gần nhau nhiều hơn trước khi chia tay.
Chúng tôi đã nói chuyện với nhau rất nhiều về hiện tại, về tương lai, về đứa con sắp chào đời không biết nó sẽ là trai hay gái. Nếu là trai thì đặt tên gì và con gái sẽ đặt tên gì. Hai vợ chồng hình dung tới ngày tôi trở về, con chúng tôi gần hai tuổi, lúc ấy vợ tôi sẽ dẫn con ra đón tôi, có lẽ cũng ở bến Bắc Cao Lãnh này và tôi sẽ vô cùng hạnh phúc khi lần đầu tiên nhìn thấy con bằng xương bằng thịt, nghe con mình gọi hai tiếng: Ba ơi…. Đêm cuối cùng hai vợ chồng bên nhau, chúng tôi nắm chặt tay nhau, tôi đã nói với cô ấy: Hãy chờ anh, em nhé…. Trong nước mắt nghẹn ngào, vợ tôi không nói nên lời chỉ biết gật đầu, ôm tôi thật chặt. Tất cả chúng tôi - người đi, người ở không bao giờ nghĩ tới sự xa cách lại lâu và lâu đến đáng sợ như vậy. Chưa hết, khi tôi được sống trong hòa bình, độc lập ở miền Bắc thì tôi biết người ở lại, trong đó có vợ con tôi bắt đầu phải sống trong sự trả thù rất hèn hạ của kẻ thù bởi họ là vợ, là con, là cha, là mẹ của những người đi tập kết. Bụng mang dạ chửa, cuộc sống vô cùng cơ cực, vợ tôi luôn phải sống chui sống nhủi, trốn tránh tụi lính, từ sáng đến chiều gần như ở ngoài ruộng, sẫm tối mới dám vô nhà. Chỉ với năm công ruộng, cô ấy vừa nuôi hai mẹ con, ông bà già và phải gởi gạo về cho ba má chồng. Khi con sanh ra, lớn lên không dám đi làm khai sanh vì không khai được tên họ cha nên con tôi cũng thất học luôn cho tới ngày độc lập.
Và…cũng chỉ vì cái gật đầu hứa hẹn, hơi ấm và những giọt nước mắt nóng hổi của vợ tôi trong đêm mùa thu năm ấy trên quê hương Cao Lãnh, mà trong mấy chục năm ròng, cứ ngày Bắc, đêm Nam, tôi luôn nhớ về người vợ trẻ vô cùng yêu thương và đứa con sắp chào đời lúc chia tay mà quên đi tất cả mọi đòi hỏi thường tình của người đàn ông đang vào độ sung mãn….. Nói thật, có những đêm tôi đã khóc ròng, tưởng đã tới ngưỡng tận cùng của nỗi nhớ, không thể chịu đựng hơn được nữa vì quá nhớ vợ, thương con, khát khao hạnh phúc, dù đang được sống tự do trên đất Bắc.
Đại thắng mùa xuân năm 1975, tôi đã trở về trong đoàn quân chiến thắng. Mấy mươi năm dù ở hai phương trời xa cách nhưng chúng tôi vẫn chung thủy chờ nhau. Cám ơn người vợ hiền của tôi. Bà ấy là món quà vô giá mà số phận đã ban tặng cho tôi./
15. CHUYẾN ĐI CHO NGÀY TRỞ VỀ
Ông Trần Thanh Tòng kể
Trần Thanh Phong ghi
 
Tháng 7/1954, Hiệp định Genève được ký kết, thế là cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ 2 của nhân dân Việt Nam đã kết thúc. Hiệp định được ký kết, nhưng miền Nam vẫn do chính quyền tay sai bù nhìn kiểm soát. Theo nội dung Hiệp định, bộ đội chúng tôi phải chuyển quân tập kết ra Bắc, hai năm sau đó sẽ tiến hành hiệp thương tổng tuyển cử, thống nhất nước nhà.
Chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, tôi đành phải rời xa căn cứ cách mạng Bời Lời, nơi mà tôi đã sống, chiến đấu cùng đồng bào, đồng chí và những người thương yêu từ buổi đầu tòng quân giết giặc năm 1947. Căn cứ địa Bời Lời thuộc ấp Bời Lời, xã Đôn Thuận, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, là căn cứ địa của Uỷ ban Kháng chiến - Hành chính huyện Trảng Bàng, đây cũng là nơi đồn trú của các cơ quan, đơn vị, đoàn thể và lực lượng vũ trang huyện, trong đó có đại đội 2794 của tôi.
Suốt cả một đêm trước ngày chuyển quân tôi thức trắng, hình ảnh của những người anh em, đồng chí, đồng đội đã ngã xuống trong những trận chiến đấu ác liệt, hình ảnh chiếc áo bà ba nâu, những ngóc ngách của khu rừng chiến địa, từng căn hầm bí mật, từng bãi chông, hang đá, gốc cây cứ vây lấy tôi, cứ xâm chiếm hết tâm trí tôi. Nhớ thương là vậy, nhưng tôi tự nhủ, phải nén lòng ra đi cho ngày về thống nhất.
Chuyến lên đường…
Một tuần sau ngày Hiệp định Genève được ký kết, chúng tôi bắt đầu chuyến hành quân về khu tập kết tạm thời để chuẩn bị tập kết ra Bắc. Khi đơn vị chúng tôi vượt sông Vàm Cỏ Đông để xuống Vàm Cỏ Tây, đến đường số I (quốc lộ 22 ngày nay), một chiếc xe Jeep từ hướng Trảng Bàng chạy tới và dừng lại bên lề đường. Từ trên xe một thanh niên cao lớn, trắng trẻo bước xuống, đi nhanh đến chỗ tôi và đồng chí N, nói: “Anh em mình mỗi người một lý tưởng, thôi thì mạnh ai theo lý tưởng của người đó. Nhưng tôi thành thật mà nói với các anh là: hai năm sau sẽ không có chuyến trở về đâu!”. Người đó là Q.V, sĩ quan cao cấp trong quân đội Cao Đài phản cách mạng, anh em chú bác ruột của đồng chí N. Nghe rõ từng lời một của Q.V, nhưng trong tôi không hề có một chút gì nao núng hay dao động, không có một chút gì hoài nghi vào ngày trở về, tôi vẫn vững tin nước nhà rồi đây sẽ hòa bình, thống nhất, dù khó khăn, gian khổ nhưng nhất định chúng tôi sẽ trở về. Đáp lại những lời nói của y là thái độ thờ ơ, lạnh lùng và cái nhìn đầy khinh bỉ của chúng tôi. Tôi thấy thật đáng thương hại cho một đứa con nhầm đường lạc lối, một tên tướng Cao Đài đang chìm sâu trong cơn mê muội. Với y, việc lập quân đội riêng của Cao Đài rồi theo ôm chân thực dân Pháp chống lại cách mạng, phản bội lại Tổ quốc, đi ngược lại nguyện vọng và lợi ích của đồng bào lại là “lý tưởng”!. 
Sau cuộc giáp mặt ngắn ngủi đó, chúng tôi tiếp tục hành quân, một chuyến ra đi cho ngày trở về toàn thắng. Đoàn đến khu vực nhà thờ Công giáo Tha La (xã An Hòa, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh), rất nhiều đồng bào có đạo và không có đạo đứng ở hai bên đường tiễn chân bộ đội. Nhìn vóc dáng trắng trẻo, to lớn của tôi, một giáo dân nói với theo bằng chất giọng miền Bắc đặc sệt: “Nghe nói Việt Minh ốm o lắm, lông lá đầy người, nhưng bây giờ tôi mới thấy Việt Minh cũng trẻ, khỏe và đẹp trai đấy chứ!”. Tôi đứng khựng lại, nhìn chị cười to và đáp rành rọt: “Thực dân Pháp và bọn tay sai chỉ giỏi lừa mị bà con thôi, chứ bộ đội Việt Minh ai cũng khỏe như voi, chị không thấy thằng Pháp to lớn như vậy mà cũng phải chào thua đó sao?”. Mọi người cười rang, chị cũng cười và không nói gì nữa.
Sau một thời gian tạm đóng quân ở sông Vàm Cỏ Tây, chúng tôi được lệnh chuyển về Cao Lãnh, một thị trấn nhỏ của tỉnh Long Châu Sa lúc bấy giờ, nay là Thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Ghe vừa cập bến, rất đông bà con thị trấn Cao Lãnh đứng sẵn chờ đón đoàn. Thái độ niềm nở, nồng hậu, thân tình của đồng bào nơi đây làm những con người từ phương xa đến như chúng tôi cảm thấy thật ấm áp, gần gũi như thể đây là nhà của mình vậy.
Bữa cơm chiều hôm ấy diễn ra trong khu nhà đối diện bến đò, vốn trước đây là trụ sở của cảnh sát Mỹ-ngụy. Ở sân trước ngôi nhà, trên nền xi-măng hằn lên một mảng xám hình người, hỏi ra mới biết đó là dấu tích của một chiến sĩ du kích bị địch bắt, sau những lần tra tấn dã man mà không khai thác được gì, chúng đã trói dạng chân tay đồng chí ra giữa sân, trong tư thế ngữa người, cho xe lu cán dẹp rồi dùng xăng đốt xác. Được nghe tận tai về cái chết của người cộng sản kiên trung, ai ai trong chúng tôi cũng tuôn trào lửa hận, ai cũng phẫn nộ tột cùng trước những hành động man rợ của kẻ thù, cùng với đó là lòng cảm phục, tiếc thương cho người du kích anh hùng, người chiến sĩ kiên trung của mảnh đất Tháp Mười, của miền Nam bất khuất.
Để đảm bảo nhu cầu ăn ở, ngay trong tối hôm ấy, chúng tôi được lệnh di tản về các làng xung quanh Thị trấn Cao Lãnh trú quân. Đi được hơn 30 phút, trời bắt đầu đổ mưa, đường tối đen, trơn trợt, đoàn người phải nối gót nhau mà đi, người sau vịn vào ba lô người trước để không bị té ngã, lạc đường. Càng khốn khó bao nhiêu, chúng tôi càng thấy rõ nghĩa nặng, tình thâm của đồng bào Cao Lãnh bấy nhiêu, bà con không quản ngại gian khổ, cùng đội mưa, đạp bùn thắp đuốc dẫn đường cho bộ đội hành quân. Sau khi vượt đoạn đường gần 3km, ngang qua chợ Long Hồi, đơn vị tôi đến được khu vực của xã Tịnh Thới ngày nay rồi đóng quân tại đó. Đến 9 giờ đêm, khi nơi ăn, chốn ở của bộ đội đã đâu vào đó thì bà con lại phải ngược mưa lội nước trở về. Đại đội 2794 của tôi đóng tại xã Tịnh Thới cho đến ngày xuống tàu tập kết ra miền Bắc.
Vào khoảng tháng 10 năm 1954, chuyến tàu chuyển quân đầu tiên chuẩn bị rời bến Cao Lãnh. Trong lúc tôi chuẩn bị xuống tàu, đồng chí Hải, quân báo huyện đội Trảng Bàng, là cháu gọi tôi bằng chú chạy đến, đưa cho tôi một cái áo mưa và nói: “Con đã sẵn sàng cho chuyến tập kết, nhưng phút cuối con nhận được lệnh ở lại miền Nam, không đi tập kết nữa. Nghe nói ngoài miền Bắc mưa nhiều, lạnh lắm, chú đi nhớ giữ sức khỏe, đem theo cái áo mưa này để có mà dùng. Hy vọng hai năm nữa chú cháu mình sẽ lại gặp nhau!”. Tôi không nghĩ rằng cuộc nói chuyện ngắn ngũi đó cũng là lần cuối cùng tôi được gặp Hải, hy vọng về cuộc gặp gỡ với người cháu và cũng là người đồng chí đã ra tận bến đò tiễn tôi đi tập kết mãi không thành. Bởi, khi được phân công ở lại miền Nam, Hải tiếp tục nhận nhiệm vụ quân báo của mình. Trong một trận tiến công địch của quân ta tại Dầu Tiếng, Hải trúng đạn, bị thương nặng và đã hy sinh. Sự hy sinh của Hải được Tổ quốc mãi mãi ghi công, đó như một sự an ủi cho người ra đi, cho tôi và gia đình của Hải. Tàu càng đi xa, nỗi nhớ nhà càng dày thêm trong tâm khảm, nhớ đến da diết, cồn cào mảnh đất miền Nam yêu dấu.
Hai năm không nhiều, nhưng với chúng tôi khoảng thời gian đó dài đằng đẳng. Không làm sao có thể diễn tả hết cảm giác nhớ thương về miền Nam ruột thịt của người con xa xứ. Hai năm trời, tôi luôn phải sống trong cảnh “Ngày Bắc đêm Nam”, ngày ra thao trường rèn quân, luyện cán, lúc đêm về, mỗi khi nằm xuống miền Nam lại hiện về trong trí nhớ tôi rõ mồn một, từng ngôi nhà tranh, bờ tre đằng ngà, ngọn núi Bà Đen, bến đò Cao Lãnh chiếm lấy tôi trọn vẹn.
Một lần, đang đi trên đường Hà Nội, tôi nghe trên đài phát bài hát “Áo bà ba”: “...Trời thanh thanh nắng tươi êm đềm, hồ Gươm vui sắc hoa tươi thắm, ngời ánh nắng áo tím, áo xanh. Thoáng qua, thoáng qua, kìa áo bà ba. Tôi nhớ ai bên dòng nước xanh, người áo trắng đi bên hàng dừa. Người yêu tôi mong chờ, người đi xa mắt tôi không rời, còn trông theo phất phơ chiếc áo. Nhìn chiếc áo tôi nhớ thương ai, ... nhớ thương, ... nhớ thương người ở miền Nam...”.
Nghe những lời hát ấy, cảm xúc về miền Nam lại trào dâng trong tôi. Nói về những tháng ngày thương nhớ đó, tôi và anh Lưu Duy Khánh đã viết bài hát: “Ngày chúng tôi đi tập kết”, vào năm 1956:
Từ miền Nam xa xôi
Vượt qua muôn trùng dương sóng gió
Về nơi đây đắp xây
Kiến thiết cho nước nhà hùng cường
Từ miền Nam xa xôi
Nhân dân ta giờ đây còn tranh đấu với quân thù
Đem máu xương giành lấy hòa bình
Luôn đấu tranh thống nhất Nam-Bắc-Trung một nhà
Nhớ hôm nào qua các phố phường
Có những mẹ già dầm mưa thân gầy ướt át
Tay rung rung cầm ngọn đuốc chiếu sáng trên đường
Cho các con Bộ đội
Đi qua những khúc đường trơn
Những thiếu nữ vui mừng ra đón tiếp tưng bừng
Hôm nay đây ngày đình chiến
Em chúc các anh
Lên đường đi tập kết luôn được mạnh và vui
Hai năm nữa thôi. Hai năm sẽ về
Về đây xây đắp cho miền Nam yêu quí nghe anh.
Thời hạn tập kết hai năm theo nội dung Hiệp định Genève đã hết, nhưng ngày về vẫn chưa đến, cuộc hiệp thương tổng tuyển cử, thống nhất nước nhà đã không thể diễn ra. Miền Nam vẫn còn chìm trong lửa đạn chiến tranh. Quê hương tôi, gia đình tôi, làng xóm tôi tiếp tục phải gánh chịu bao nổi đau thương, mất mát trước họng súng tàn bạo của kẻ thù. Còn riêng tôi vẫn phải tiếp tục sống trong tâm trạng ngày Bắc, đêm Nam. Nghe tin chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm đề ra Luật 10/59, lê máy chém đi khắp miền Nam, tàn sát, giết hại đồng bào vô tội hết sức dã man, lòng căm thù bọn phản nước, hại dân trong tôi càng lớn, tôi càng quyết tâm ra sức luyện quân, chờ ngày trở về giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.
… Ngày trở về
Ngày trở về rồi cũng đến, tháng 5/1961, chúng tôi được lệnh hành quân về Nam chiến đấu. Thế là sau 7 năm trong cảnh người sống ngoài phương Bắc, tâm hồn ở mãi phương Nam, tôi được trở về nơi chôn nhau cắt rốn, được cùng đồng bào Nam bộ chiến đấu chống lại bọn bán nước tay sai Ngô Đình Diệm. Sau 5 tháng dài vượt dãy Trường Sơn, chúng tôi về đến chiến khu Đ. Đứng giữa đại ngàn chiến khu Đ, ngước nhìn mặt trời xuyên qua những tán cây rừng, tôi như muốn hét to lên rằng: “Miền Nam ơi, đồng bào Tây Ninh ơi, Cao Lãnh ơi, chúng tôi đã trở về đây, chúng tôi đã về để chiến đấu, để bêu đầu Diệm, quét sạch quân thù, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà cho thỏa lòng mong đợi của bà con”./.                 
16.HÀNH TRÌNH TRÊN BIỂN
Ông Trần Văn Bi, Trần Đức Ngợi kể
Ngô Thị Thuỷ ghi
 
Một ngày giữa tháng 9, trong không khí hồ hởi, đoàn quân tập kết bắt đầu hành quân xuống tàu tại bến Bắc Cao Lãnh, với trang phục thống nhất trông thật đẹp. Nước sông Cửu Long chảy êm ả, mang theo phù sa về bồi đắp cho ruộng đồng thêm tươi tốt. Đơn vị chúng tôi (Liên xưởng Long Châu Sa) là một trong những đơn vị đi những chuyến đầu tiên tập kết ra Bắc. Hai bên đường, người thân và rất đông bà con đưa tiễn. Những cánh tay đưa lên vẫy chào, những nụ cười đượm buồn, ẩn chứa tình thương, nỗi nhớ, chờ đợi… Anh em chúng tôi chỉ kịp đưa hai ngón tay vẫy chào tạm biệt, ám hiệu sau hai năm sẽ trở về theo cam kết của Hiệp định. Nhiều người không thể kìm nén được cảm xúc, những giọt nước mắt lăn trên gương mặt dạn dày sương gió. Mỗi người một hoàn cảnh, mỗi người một tâm tư, mỗi người một nỗi lo riêng, nhưng có một điểm chung đó là tâm trạng rời xa quê hương. Rồi đây, bà con, gia đình, người thân sẽ sống như thế nào dưới nanh vuốt của kẻ thù tập kết ngược từ Bắc vào Nam? Và phải đối mặt ra sao trước sự áp bức, bóc lột của những tên “khát máu”?… Gác tất cả qua một bên, chúng tôi… lần lượt xuống tàu.
Tàu rời bến Bắc, chở hơn một đại đội, đặc nghẹt người nên chúng tôi không thể nhúc nhích được, phải co đầu gối lại cho đỡ chật. Đi tới Vĩnh Long, tàu neo đậu một đêm. Khi mặt trời dần lên đến đỉnh đầu, chúng tôi đã ra tới cửa biển, lúc này có “tàu chuồng cu” đón đợi (vì tàu Ba Lan, tàu Liên Xô chưa kịp sang). Anh em, nhiều người dân Đồng Tháp Mười, có biết biển là như thế nào, mười mấy tuổi đi theo cách mạng vào ở trong đồng sâu nên ra tới biển thì ngơ ngác, tất cả thiệt lạ lẫm. Nhìn từ xa, trông tàu thiệt lớn. Tàu dài khoảng 30m, cao khoảng 20m, có thang dây thả xuống cho anh em leo lên. Tôi tháo giày ra đeo lên vai để leo thang lên tàu lớn (giày được gia đình trang bị, còn phần lớn bộ đội lúc này đi chân đất), từng người, từng người một cho đến khi tất cả anh em đã tập trung trên boong tàu. Đang là lúc giữa trưa, trời nắng nóng, do không kịp mang giày khi đặt chân xuống boong tàu (làm bằng sắt) rất nóng và rát, tưởng chừng như lòng bàn chân có thể tan chảy ra mỡ. Anh em xếp thành hai hàng đôi, không ai bảo ai, đứng chân phải thì chân trái nhón lên cho đỡ nóng và ngược lại, hai chân thay phiên nhau cho đến khi tổ chức phân công xong vị trí ăn, ở của bộ đội. Lúc nầy, mấy tay lính Tây đang theo dõi từng cử chỉ, hành vi của chúng tôi. Vì vậy, dù nắng, nóng và rát, anh em vẫn xếp hàng ngũ nghiêm chỉnh, đứng theo đội hình, có cả chút dương oai cho mấy tay lính Pháp thấy bản lĩnh của Việt Minh là như thế nào! Trong khi đó, những tay lính Pháp - trên tàu chở chúng tôi ra Bắc thì hùng hậu, gồm sĩ quan, binh lính, trang phục chỉnh tề, giày dép đàng hoàng, vũ khí súng ống mới hơn ta rất nhiều. Khi tiếp cận, lính Pháp nhìn chúng tôi một cách đăm chiêu, khó hiểu, lộ ra vẻ tức giận. “Quân đội Việt Minh thế này: người mảnh khảnh, thân hình nhỏ bé, nước da nhợt nhạt (do nhiều năm sống trong căn cứ, bịnh sốt rét hoành hành), lại là người chiến thắng. Còn đội quân hùng hậu với vũ khí hiện đại lại là kẻ bại trận”- đó là tâm sự của mấy tay lính Pháp được các đồng chí chỉ huy phiên dịch.
Trên tàu, việc ăn uống sinh hoạt bị xáo trộn hoàn toàn, không được nấu nướng bất kỳ thứ gì, dù là cháu lỏng cho anh em say sóng ăn. Nước uống, nước sinh hoạt chỉ vẻn vẹn vài lít một ngày cho một người. Đồ ăn chuẩn bị cho những ngày lênh đênh trên biển như: bánh mì, bánh tét, sữa đặc luộc chín nguyên hộp, khoai lang sống - để chống say sóng… chỉ dùng được vài ngày. Đặc biệt món sữa đặc nói trên đến ngày thứ ba ngán quá không thể nào nuốt nổi. Phải biết trước điều này thà không luộc để nguyên sữa sống còn dễ uống hơn.
Lênh đênh trên biển ba ngày đầu thật yên ả vì không có sóng to gió lớn, anh em thường trèo lên boong tàu ngắm biển rất khoái - khoái vì được nhìn thấy biển trời mênh mông, Tổ quốc rộng lớn, đúng là Việt Nam “rừng vàng biển bạc”. Biển biếc xanh, bao la tận chân trời, thỉnh thoảng có đàn chim hải âu bay lượn gần tàu rồi biến mất trong xa thẳm. Chúng tôi lấy bánh mì chọi cho cá ăn coi chơi, từng đàn cá nối đuôi nhau lại ăn số thức ăn do anh em thả xuống rồi quẫy quẫy đuôi như muốn cám ơn và chào chúng tôi. Thật là thú vị!. Sau vì sợ cạn lương thực nên ăn cũng không dám ăn no, phải ăn nhín nhín và để dành từng chút bánh mì. Mặc dù trên tàu, nhưng anh em vẫn tranh thủ “tuốt” lại ngoại hình, hớt tóc, may vá những bộ đồ bị rách. Thấy anh em hớt tóc cho nhau nên mấy tay thuỷ thủ Tây tóc tai lồm xồm cũng lại nhờ hớt dùm… bộ đội sẵn sàng!.
Tối đến, anh em lên boong tàu hóng mát, hứng lên biểu diễn văn nghệ, ca hát, nhảy múa. Hát những bài hát ca ngợi Đảng, Bác Hồ, ca ngợi Việt Minh, ca ngợi sự đoàn kết, thuỷ chung, ca ngợi vùng đất Đồng Tháp Mười… “Trời Việt reo vui trong ánh hồng mênh mông…; nhịp tay đều, nhịp tay ta múa ca…” Mấy tay lính Tây thấy rất thích thú, vui cười lén xem (vì hình như chỉ huy tàu không cho xem).
Sang ngày thứ tư nhận được tin bão, tàu chuyển hướng vào bờ để tránh. Lúc này tàu bị chồng chành và lắc dữ dội, nước biển ào ào tràn qua boog tàu. Có lúc chân vịt quay trên không, phát ra tiếng động rù rù. Khi tàu thả neo, nghe tiếng động dữ dội do dây xích phát ra rầm rầm như trời có sấm sét… Do dây xích bị hụt nên tàu vẫn không dừng được để chạy vào bờ. Phải lặp đi lặp lại nhiều lần tàu mới vô được vịnh Đèo Cả để trú bão. Sau ba ngày trú ẩn tránh bảo, tàu nhổ neo hướng ra biển cả, tiếp tục cuộc hành trình. Nhưng không chống chọi nổi những ngọn sóng dữ dội, đành phải quay lại chỗ cũ. Do đi tàu buôn nên khi gặp bão, ở dưới hầm hàng vừa thiếu dưỡng khí, thiếu ánh sáng, do đó rất ngột ngạt và vô cùng nóng nực… Tôi ở hầm giữa tàu, xung quanh toàn là sắt, nằm ở dưới rất nóng. Ban ngày nắng nóng, đêm xuống vẫn nóng, một phần vì hơi nước, một phần vì sắt trên tàu toả nhiệt.   
Trải qua cơn bão dữ dội, bánh mì thì đã hết, số còn lại thì mốc đen xì, phải bỏ hết ruột lấy da bánh bên ngoài ăn. Anh em đói bụng, mà nước ngọt cũng không đủ để uống, người nào người nấy đều khát đắng cổ họng. Gặp mấy tay lính Pháp ác cảm với bộ đội nên chúng rất khắt khe trong việc cung cấp nước ngọt. Tuy nhiên, cũng có một số tên “tốt bụng” (những người lính đánh thuê, chịu cảnh bị bóc lột sức lao động, bóc lột quyền tự do) nói với chúng tôi: “Các anh phải đấu tranh, đấu tranh đi để đòi nước ngọt mà uống, tuy không nhiều nhưng có lượng nhất định dự trữ trên tàu”. Vậy là Ban chỉ huy đấu tranh đòi nước ngọt, chúng mới chịu phát thêm cho anh em.
Đêm đến, một số lính Tây lén đưa bánh mì - ổ to bằng bắp chuối để chúng tôi gối đầu rồi véo ăn. Nhưng chúng tôi ra hiệu cho nhau, tất cả không nhận, không lấy, không ăn. Thấy Việt Minh mặc dù đói nhưng cùng đói, không lộn xộn, không cướp bóc, cực khổ nhưng hết sức nghiêm túc, có kỷ luật, lại sạch sẽ, văn minh nên từ chỗ quân Pháp khắt khe với ta đủ điều, dần dần thấy nếp sống, sinh hoạt của ta mẫu mực, chúng kính nể rồi giác ngộ dần và đi đến phục vụ, rồi phục vụ vô điều kiện, như nấu cháo cho các cháu bé, nấu cơm bằng nồi hơi cho người lớn bị say sóng nặng ăn cầm chừng… Nói chung là chúng có thiện chí và tốt với bộ đội. Trong khi đó, lính Tây phàn nàn, khi chở số quân ở miền Bắc vào trong Nam (nguỵ binh, công giáo) ăn ở không sạch sẽ, “chúng tôi vệ sinh tàu cũng đủ mệt”… Sở dĩ có trò chuyện và ít nhiều trao đổi được với mấy tay lính Tây vì anh em trên tàu phần lớn biết tiếng Pháp. Thời đó, đặc biệt là một số đồng chí lớn tuổi được học tiếng Pháp nên rất rành.
Khi tàu cập biển Sầm Sơn - Thanh Hoá, bà con ở đây đã đứng trên bờ đón đợi với cờ hoa, reo hò, đánh trống múa lân rất đông để chào mừng bộ đội miền Nam. Chúng tôi đặt những bước chân đầu tiên lên đất Bắc sau những ngày lênh đênh trên biển trong tâm trạng lâng lâng khó tả. Một số người say sóng, sức khoẻ yếu không thể tự đi nên được bà con và những người đón tiếp ân cần dìu từng bước tới chỗ nghĩ. Ổn định vị trí ăn ở, tôi cùng đồng đội được bà con nơi đây thiết đãi một bữa ăn “thấm thía” mà đến bây giờ mỗi khi nhắc đến tôi không khỏi “tâm phục” sự hóm hỉnh, tinh nghịch, niềm nở của các cô, các chị. Trước khi thức ăn được mang lên, họ đã hỏi chúng tôi với chất giọng đầy bí ẩn và ngọt ngào của miền Bắc: “Các chú ăn theo chế độ  nào để chị em chúng tôi kịp chuẩn bị. Có “đại táo”, “trung táo” và “tiểu táo”. Anh em nghĩ bụng “đại táo” chắc là món ngon và nhiều vì “đại” là lớn. Những ngày trên tàu anh em lại đói khát nên phần lớn chọn… “đại táo”!. Nhưng hoá ra “đại táo” là mười người ăn chung một mâm, trung táo là sáu người một mâm, còn tiểu táo là một đến hai người một mâm!
Sau một thời gian, nghe nói trên chuyến tàu đi sau có đồng chí say sóng dữ dội, ói ra mật xanh mật vàng, mệt lả người, cộng thêm với sức khoẻ vốn yếu, cuối cùng không thể chịu đựng được đã chết. Chỉ huy tàu Pháp đòi ném xác xuống biển, nhưng anh em không đồng ý. Sau một hồi đấu tranh quyết liệt chúng mới chịu nhượng bộ và cho ca-nô chở xác vào bờ để các đồng chí mình chôn cất người anh em xấu số (khoảng ở đèo Hải Vân).
Cuộc hành trình trên biển gian nan vất vả là vậy, nhưng cũng không thấm thía gì so với cuộc hành trình gần 10 năm sau từ Bắc vào Nam. Đó là cuộc hành trình đi bộ vượt Trường Sơn, vừa đi vừa mở đường, để giữ bí mật, an toàn phải đi trên những con đường chưa ai từng đi, lội qua những con suối chưa ai từng lội... Cuộc hành trình ấy có biết bao chiến sĩ đã mãi mãi nằm lại nơi rừng thiêng nước độc. Cũng chính cuộc hành trình ấy, những người lính cụ Hồ đã góp phần làm nên Đại thắng Mùa Xuân năm 1975.

17. BAN BIÊN TẬP ĐANG TÌM
18. VÀO NAM RA BẮC
Lê Thanh Nam
 
100 ngày tập kết tại Cao Lãnh sôi động, hào hùng, với tôi đó là khoảng thời gian đáng nhớ nhất trong đời - khoảng thời gian đặc biệt. Sở dĩ nó đặc biệt bởi vì phần lớn người đi tập kết ra Bắc là bộ đội và con em miền Nam. Còn tôi, vốn sinh ra và lớn lên trên miền Bắc nay lại được “đi tập kết” về chính quê hương yêu dấu của mình - Thanh Hoá - địa điểm đón tiếp bộ đội và con em miền Nam tập kết ra Bắc. Thật vô cùng vui mừng và xúc động.
Nhớ lại, trong cách mạng Tháng 8/1945, tôi tham gia hoạt động Đội thiếu niên và Đoàn thanh niên cứu quốc, sau đó là giáo viên dạy bình dân học vụ “chống giặc dốt”. Năm 1950, vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Đông Dương (Đảng Cộng sản Việt Nam) khi vừa tròn 20 tuổi. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước sang giai đoạn quyết liệt, chiến trường miền Nam yêu cầu tăng cường cán bộ, chiến sĩ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật, kịp thời phục vụ chiến đấu trên các mặt trận. Tôi là thành viên của đoàn quân Nam tiến cơ quan cơ mật (thông tin - cơ yếu) Bộ tổng Tham mưu, Bộ Quốc phòng. Được giao nhiệm vụ chuyển tải tài liệu mật đến các Quân khu: III, IV, V, VI, VII, VIII, IX , một cách nhanh chóng, chính xác, đảm bảo thông tin liên lạc, bí mật và an toàn tuyệt đối.
Cuộc hành trình lịch sử vạn lý trường chinh với cự ly chiều dài trên hai nghìn cây số, từ biên giới Việt Trung núi rừng Việt Bắc ATK (Thủ đô kháng chiến) đến đất mũi Cà Mau. Từ chiến khu Việt Bắc xuống Khu III, Khu IV, qua Bình Trị Thiên khói lửa, hết vùng tự do đến vùng tạm chiếm, khúc ruột miền Trung, Nam Ngãi, Bình Phú, Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết, rồi đến miền Đông đất đỏ, gian lao mà anh dũng, tới đồng bằng sông Cửu Long thẳng cánh cò bay, và “Tháp Mười đẹp nhất bông sen, Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”… Người dân Nam Bộ gắn bó với thiên nhiên và hoà quyện vào thiên nhiên, biến khó khăn, khắc nghiệt thành điều kiện sống cho mình với hoa thơm, trái ngọt. Khí hậu Nam Bộ ôn đới, phân hai mùa rõ rệt trong năm, ở đây tôi không phải chịu đựng cái nóng oi bức hay cái rét cắt da cắt thịt nhưng phải lo đối phó với muỗi mòng như vãi trấu.
Đến với miền Tây, kênh rạch chằng chịt dọc ngang, bất cứ ai ở xứ khác đến cũng phải tập đi bằng “hai tay”, nghĩa là phải tập chèo ghe, bơi xuồng, tập làm quen với cầu khỉ và những thứ liên quan đến đặc trưng của vùng sông nước. Tuy lạ lẫm nhưng rất thú vị. Có lần, tôi chở thủ trưởng anh Sáu T đi họp, không may bị sự cố, chiếc ghe ba lá đi vào rạch cua bị lá dừa nước che khuất tầm nhìn, cả hai anh em bị té xuống nước, phải quay trở về thay đồ rồi đi họp tiếp, thật hú vía. Khi bộ đội hành quân ban đêm qua sông lớn, hai người chèo đôi (bốn chèo), phải hợp đồng chặt chẽ giữa người chèo mũi và người chèo lái, nếu không sẽ không an toàn… Những ngày hoạt động tại đây, tôi đã cùng đồng đội đi bắt ốc, hái bông súng, bông điên điển nấu canh chua với các loại cá như cá lóc, cá sặc, cá thác lác… với vô số các loại cá mà lần đầu tiên tôi cũng như anh em ngoài Bắc vô mới được biết đến, và cũng là lần đầu tiên được ăn cá “thoải mái” như vậy. Đó là mùa mưa, mùa nước lên. Đến mùa khô cạn hết nước, đồng khô cỏ cháy, khi gặp gió cỏi cháy suốt ngày khó mà dập tắt, phải chờ đến khi cuối gió, bộ đội cùng bà con chặn đón bắt chuột, bắt rắn về cải thiện bữa ăn. Đây cũng là món ăn đặc sản của Nam bộ nói chung, miền Tây nói riêng.
Đặc biệt, Long Châu Sa có loại “lúa trời”, còn gọi là “lúa ma”, loại lúa mọc tự nhiên không cần con người chăm sóc, nhưng đó là nguồn lương thực bổ sung quan trọng của bà con vùng nước ngập và bộ đội lúc bấy giờ. Vào khoảng tháng mười âm lịch, người ta chỉ cần chống xuồng đi đập về là có gạo ăn như câu ca dao: “Ai ơi về miệt Tháp Mười/Cá tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn”. Tất cả đều rất thú vị, đã cuốn lấy để rồi tôi khám phá trong hành trình của mình và không sao quên được.
Tạm biệt miền Tây Nam Bộ, đầu năm 1954, tôi cùng một số anh em cơ quan Bộ Tư lệnh miền Tây lên miền Đông công tác tại Đặc khu Sài Gòn - Gia Định; quân đội ta hoạt động mạnh trên các chiến trường Bắc, Trung, Nam, kết hợp đấu tranh chính trị, đấu tranh ngoại giao trên bàn Hội nghị Genève.
Ngày 21 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Genève được ký kết. Thực hiện nội dung của Hiệp định, đơn vị chúng tôi hành quân về khu tập kết 100 ngày tại thị trấn Cao Lãnh, tỉnh Long Châu Sa. Được nhân dân địa phương giúp đỡ dùng ghe máy của gia đình chở bộ đội qua kênh Ma-ren, Mướp Xanh, sông Vàm Cỏ Tây, kênh Nguyễn Văn Tiếp, Dương Văn Dương… Trên đường hành quân, dọc hai bờ kênh có cờ đỏ sao vàng, băng rôn, nhân dân reo mừng, hô khẩu hiệu: “Hoan hô bộ đội chiến thắng trở về; Hoà bình muôn năm; Cụ Hồ muôn năm…”. Khi đoàn ghe chở quân dừng lại qua các “Vàm” ngã ba, ngã tư, nhiều người đổ xô xuống ôm hôn, bắt tay, chào tạm biệt; những cử chỉ hành động làm xúc động bao trái tim.
Những ngày tập kết tại Cao Lãnh, tôi được phân công công tác hậu cần. Hàng ngày cùng một số đồng chí đi chợ mua thức ăn cho đơn vị và chuẩn bị lương thực cho bộ độ xuống tàu. Phụ trách công tác này, tôi có điều kiện gần gũi nhân dân và đặc biệt được sự giúp đỡ nhiệt tình của bà con nơi đây. Trước ngày chia tay, bà con kéo đến cho thức ăn là những thứ chống say sóng, các loại trái cây, có nhiều người còn tặng quà kỷ niệm cho các chiến sĩ… Khoảng 15 giờ ngày 16/10/1954, đơn vị xuống tàu tại bến Bắc Cao Lãnh. Khi hành quân ra tới bến Bắc thấy dân đứng sẵn nơi bờ sông, đó là những người thân của anh em bộ đội ở lại đưa tiễn, nhưng phần lớn là bà con Cao Lãnh với đủ thành phần, người lớn tuổi, trai gái, các em thiếu nhi, các mẹ chiến sỹ. Mọi người giơ hai ngón tay, dưới tàu, trên bờ ý muốn nói hai năm sau sẽ gặp lại. Nhìn cảnh bà con đưa tiễn, hướng về phía trước mà lòng nao nao khó tả. Tàu chạy thẳng ra Vũng Tàu để lên tàu lớn, sau gần một tuần chúng tôi đã ra tới Sầm Sơn, Thanh Hoá. Được nhân dân đón tiếp, tay bắt mặt mừng như đón người thân đi xa lâu ngày trở về.
Bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc có hai Sư đoàn 330 và 338. Sư 330 đóng tại Thanh Hoá, sư đoàn trưởng là đồng chí Đại tá Đồng Văn Cống, quê Bến Tre. Sư 338 đóng tại Hà Đông, Hà Nội do đồng chí Tô Ký, quê Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh làm sư đoàn trưởng. Thời gian trên miền Bắc, các sư đoàn đã cùng quân dân miền Bắc khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng quân đội lớn mạnh đáp ứng yêu cầu cách mạng miền Nam.
Hai năm trôi qua vẫn không có hiệp thương tổng tuyển cử. Được đế quốc Mỹ hà hơi tiếp sức, chính quyền Ngô Đình Diệm phá hoại Hiệp định Genève, trả thù những người kháng chiến cũ, những gia đình có người đi tập kết, hòng chia cắt đất nước lâu dài… Phong trào cách mạng miền Nam gặp muôn vàn khó khăn. Được Đảng ta chỉ đạo kịp thời, Nghị quyết 15 ra đời như ngọn đuốc để cách mạng miền Nam dấy lên.
Thực hiện khẩu hiệu như lời thơ Tố Hữu “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai”, ngày 19/5/1959 (ngày sinh nhật Bác) đánh dấu việc mở đường mòn mang tên Bác - đường Hồ Chí Minh lịch sử, đường dây 559, nhằm phục vụ nhân tài, vật lực cho tiền tuyến lớn miền Nam. Từ việc mở đường mòn, nhiều đường nhánh Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây được mở ra nối liền Nam Bắc. Cũng từ đây, bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc từ bộ đội thường trực đến nông trường quốc doanh (nông binh), những người đã chuyển ngành… lần lượt chuẩn bị hành trang là chiếc ba lô con cóc, mũ tai bèo, dép cao su, chiếc gậy Trường Sơn để trở về miền Nam chiến đấu, phục vụ chiến đấu gọi là đi “B”. Đồng bào miền Nam gọi là cán bộ mùa Thu trở về.
Từ hậu phương lớn trở về tiền tuyến lớn, là cán bộ thông tin liên lạc của Sư đoàn 330, lại một nữa tôi tạm biệt gia đình, quê hương vào Nam chiến đấu, phục vụ chiến đấu cùng đồng chí, đồng đội và cả dân tộc “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”. Đại thắng mùa Xuân năm 1975, mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc; đất nước sạch bóng quân xâm lược, non sông đã quy về một mối; Tổ quốc ta đã hoàn toàn độc lập, tự do và vĩnh viễn độc lập tự do. Chúng tôi - những người lính cụ Hồ cùng với nhân dân cả nước bước vào kỷ nguyên mới.
Gần 40 năm trôi qua kể từ ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, giờ đã ở cái tuổi ngoại bát tuần “xưa nay hiếm”, do cuộc sống bộn bề, tôi chưa có điều kiện thực hiện điều mong ước của mình được trở lại thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (Long Châu Sa cũ), nơi ra đi tập kết - mảnh đất thân thương thắm tình quân dân ngày ấy để thăm bà con, cô bác năm xưa cho trọn nghĩa, trọn tình và để kính dâng hương cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc... Năm 2012, nhận được thư mời Họp mặt “Kỷ niệm 58 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, ký Hiệp định Genève và phát động viết Hồi ký sự kiện 100 ngày tập kết chuyển quân tại Cao Lãnh”, tôi quá đỗi vui mừng, nhưng do bận việc đột xuất nên không thể tham dự được, tôi thầm tiếc mãi. Được biết năm 2014, Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp sẽ tổ chức tròn 60 năm sự kiện trên tại thành phố Cao Lãnh. Nếu được Ban Tổ chức quan tâm, tôi nhất định sẽ vào để có dịp gặp lại đồng đội, đồng chí, đồng bào, biết ai còn, ai mất? Khi được gặp lại là quý lắm rồi. Đặc biệt, có dịp đền ơn, trả nghĩa bà con, cô bác nơi đây - những người đã hết lòng vì
bộ đội cụ Hồ, vì cách mạng, vì sự nghiệp lớn lao của dân tộc../.
19. NHỮNG NĂM THÁNG TRỞ VỀ TỪ KÝ ỨC
Ông Võ Văn Tám kể,
Thế Thưởng ghi
 
Chiến tranh đã lùi xa, hai từ “tập kết” đã trở thành ký ức hào hùng, bi tráng trong tiềm thức của một thế hệ cán bộ, chiến sĩ mà đến nay tất cả đều đã ở cái tuổi “xưa nay hiếm”. Có người đã mãi mãi ra đi, có người may mắn được hưởng niềm vui trọn vẹn của ngày trở về… Gần sáu mươi năm đã trôi qua nhưng những hình ảnh, tâm tư, tình cảm vẫn còn in sâu trong tâm trí tôi khi những năm tháng ấy trở về từ ký ức…
Năm 1948, hai mươi mốt tuổi đời, tôi rời làng đi theo tiếng gọi cách mạng. Ban đầu là công an xung phong huyện Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang), năm 1951 là chiến sĩ tiểu đoàn 309. Hiệp định đình chiến về Đông Dương ký kết tháng 7 năm 1954, Cao Lãnh là một trong ba nơi được chọn làm điểm tập kết chuyển quân tại miền Nam trong 100 ngày. Cuối tháng tám năm 1954, khắp nơi rộn rịp hành quân từ mọi ngả tập trung về căn cứ Đồng Tháp Mười, về Cao Lãnh. Khắp các xã thuộc huyện Cao Lãnh, nhà cửa dọc các sông rạch từ Mỹ An, Ba Sao ra Hòa An, Cao Lãnh, từ Phong Mỹ về An Bình, Mỹ Thọ… đâu đâu cũng có bộ đội đóng quân. Đơn vị tôi đóng quân ở xã Đốc Binh Kiều, huyện Mỹ An (nay là huyện Tháp Mười) chờ ngày chuyển quân ra Cao Lãnh lên tàu tập kết. Vùng này, trước đây bị địch tạm chiếm, sau khi ta tiếp quản, địch đóng quân từ quốc lộ 4 trở ra, đồn bót của địch dựng lên trước đây bị nhân dân ta phá hết.
Đồng Tháp Mười cũng là nơi tôi sinh ra. Trước cách mạng Tháng Tám, nhân dân vùng nầy hầu hết không có ruộng hoặc bị địa chủ cướp ruộng đất từ các nơi về đây sinh sống. Lúc đầu, họ khai khẩn đất hoang ở vùng này để cày cấy sinh nhai. Nhưng thực dân đã cho một số địa chủ người Pháp và Việt vào khai thác Đồng Tháp Mười. Dựa vào thế lực của bọn thống trị, số này đã chiếm đoạt ruộng đất của nông dân một lần nữa để lập đồn điền. Nhiều cuộc đấu tranh quyết liệt, đẫm máu xảy ra nhưng cuối cùng người nông dân phải chịu cảnh mất đất, phải trở lại làm thân “trâu ngựa” cho bọn địa chủ. Trong gia đình, cha mẹ, anh em tôi phải làm thuê, làm mướn trên đất của địa chủ nhưng quanh năm vẫn thiếu trước hụt sau. Bản thân tôi vì nhà nghèo nên từ nhỏ đã đi giữ trâu mướn cho người ta. Ở vùng Đồng Tháp Mười này cũng như ở nhiều vùng nông thôn khác, người dân chịu muôn vàn cơ cực, tủi nhục trong chiến tranh. Từ nhỏ, tôi đã nghe kể nhiều về những vị anh hùng như Thiên hộ Võ Duy Dương, Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều… đã chọn đất Tháp Mười làm căn cứ, chiêu mộ nghĩa quân, dựng cờ khởi nghĩa đánh đuổi thực dân Pháp. Lớn lên trên quê hương anh dũng, kiên cường, có lẽ truyền thống đó đã ảnh hưởng đến tâm hồn và tính cách tôi, thôi thúc tôi lên đường kháng chiến chống giặc ngoại xâm.
Khẩu hiệu của những người đi tập kết lúc bấy giờ là “đi vinh quang, ở lại anh dũng”. Riêng tôi, đi hay ở ? Lòng tôi cũng lắm bâng khuâng, mất nhiều đêm suy nghĩ. Bởi, người Việt Nam nào lại không gắn bó tình cảm của mình với nơi “chôn rau cắt rốn”, với quê hương, bản quán mình. Đành rằng miền Bắc, miền Nam vẫn là Tổ quốc của ta, vì Tổ quốc thống nhất mà ta sẵn sàng hy sinh cả tính mạng, nên khi khi hay tin, mỗi người ai cũng có tâm trạng riêng. Mới hôm qua đấy thôi, tôi còn hy vọng hoà bình lập lại tôi sẽ về nhà, về với mẹ già, với anh em, với bà con chòm xóm, với mảnh ruộng, miếng vườn, bờ ao quen thuộc ngày nào… Vậy mà hôm nay phải đứng trước hai sự lựa chọn: ra đi hay ở lại, đi thì được học tập, được rèn luyện, còn ở thì gần gũi quê hương, tiếp tục chiến đấu. Cuối cùng sự háo hức và phấn khích của tuổi trẻ đã chiến thắng: tôi quyết định ra đi, đi là để trở về chớ không phải để chia ly, nhất định phải trở về trong đoàn quân chiến thắng.
Bà con nhân dân ở các nơi từ Chợ Gạo, Cái Bè, Gò Công, Tây Ninh đến Cần Thơ, Cà Mau… đổ về vùng này rất đông để thăm hỏi, tiễn đưa bộ đội, con em mình lên đường tập kết. Có những mẹ, những chị ở lại đây luôn với bộ đội cho đến khi đơn vị lên Cao Lãnh xuống tàu ra Bắc. Ai cũng muốn gặp lại người thân của mình để động viên, thăm hỏi, chia sẻ những nỗi niềm vui mừng, những băn khoăn, lo lắng khi phải rời xa gia đình và cả những khó khăn trên bước đường đấu tranh sắp tới. Không ít mẹ bày tỏ tâm trạng lo lắng, nhất là khi bộ đội đi, vùng giải phóng lại rơi vào tay giặc, thành quả của cách mạng bấy lâu nay không biết rồi sẽ ra sao, bà con mình sẽ đối phó với địch ra sao. Tôi thì lại thầm nghĩ đến những người đã ngã xuống, trong đó có đồng đội tôi đã mãi mãi ra đi ở tuổi đôi mươi khi chưa kịp biết đến niềm vui này. Những người đã cùng tôi trải qua biết bao niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống và chiến đấu. Để rồi khi sắp phải rời xa mảnh đất thân thương này, ai cũng có một cảm giác gì đấy lâng lâng, hụt hẫng và đầy tiếc nuối. Đã có lúc tôi tự hỏi, tại sao thời gian lại trôi đi nhanh vậy? Thời gian không biết đứng im chờ đợi hay sao? Mọi thứ dường như trở nên vô nghĩa với khoảng không đang chảy trôi mãnh liệt ấy…
Thế là, những ngày tháng được gần gũi gia đình, người thân cũng sắp hết, ngày lên đường đã đến. Hôm chia tay, bà con đến đưa tiễn rất đông, hàng bao cánh tay giơ cao chào tạm biệt, hô vang khẩu hiệu. Tinh thần đó làm cho người ra đi vững thêm ý chí, người ở lại giữ vững niềm tin vào ngày thắng lợi thống nhất đất nước. Nhớ nhứt là hình ảnh lúc tàu rời bến, cảm động và bi tráng làm sao, sáu mươi năm rồi cứ ngỡ rằng nó sẽ phủ mờ bao hình ảnh ngày hôm đó. Nhưng không! Những hình ảnh đó như còn hiển hiện trong mắt tôi, khắc sâu trong tiềm thức như một kỷ vật vô giá của cuộc đời.
Đơn vị tôi di chuyển về Cao Lãnh bằng tàu lô, mỗi chiếc chở khoảng bảy mươi người. Đi từ sáng sớm, khi hơi sương còn đọng trên lá. Buổi sáng hôm đó trời trong, nắng đẹp. Ngang qua từng mái nhà, xóm nhỏ thân quen, từng bờ cây, ngọn cỏ nơi mình sinh ra và lớn lên, lòng tôi lại càng thêm yêu những cảnh vật xung quanh nơi mình đang sống. Những hình ảnh đó giờ đây sao mà thân thương, bịn rịn với mình biết bao. Ngồi trên tàu đò, tôi chỉ muốn lao mình xuống dòng sông tuổi thơ để được trầm mình tắm mát trước lúc đi xa. Trong cuộc đời, ít ai có thể thoát khỏi sự ám ảnh về những hoài niệm cũ kĩ đã qua của một thời xa vắng. Cuộc đời tôi, cũng giống như một chuyến hành trình, luôn có những điểm dừng chân sau mỗi chặng đường dài. Đó cũng là lúc để mình chiêm nghiệm lại là lưu giữ những gì đẹp nhứt của hành trình ấy. Có lẽ vì thế mà, suốt những năm tháng sống ở miền Bắc, được đi khắp nơi nhưng hình ảnh dòng sông quê hương vẫn hiện lên trước tiên cùng với bao ký ức đẹp đẽ tuổi thơ mỗi khi hồi tưởng về quê nhà, để rồi hai mươi năm sau tôi mới lại trở về với chính dòng sông nơi tôi đã ra đi.
Đến Cao Lãnh, đơn vị tôi đóng tại rạch Chanh, ở đây khoảng mười hai ngày trước khi lên tàu. Trong thời gian này, chúng tôi làm công tác dân vận, dọn vệ sinh giúp dân, dọn vườn, dọn ao hồ, lúc đầu dân chưa hiểu lòng bộ đội nhưng về sau mọi người hiểu và tin tưởng bộ đội ta nên cùng sáp vào làm.
Gia đình mà đơn vị tôi ở nhờ trong khi chờ lên tàu, lúc đầu, chúng tôi vào nhà mượn nồi nấu cơm, mấy cô con gái chạy hết. Sau nghe chủ nhà nói mới biết, trước khi chúng tôi đến đây, nghe đồn Việt cộng hãm hiếp đàn bà, con gái dữ lắm nên con tôi bỏ trốn hoặc ở trong buồng chứ không dám ra. Cán bộ vào nhà thăm hỏi, giải thích và làm công tác dân vận với gia đình, hôm sau họ mới tiếp xúc, trò chuyện với bộ đội. Bà con được tận “tai nghe mắt thấy” bộ đội Cụ Hồ hiền lành, dễ thương nên có thêm nhiều hiểu biết và có cảm tình với cách mạng. Sau đó, bà con còn làm gà, vịt nấu cháo đãi anh em. Hoạt động văn nghệ, tập trung ca hát mỗi buổi tối, dân lúc đầu cũng không dám đến, nhưng về sau họ đến xem khá đông, đã tạo nên không khí phấn khởi và ảnh hưởng chính trị rất lớn trong quần chúng.
Trung đội của tôi có hai đồng chí được đơn vị tổ chức cưới vợ trong lúc tập trung bằng một buổi lễ tuyên bố, mấy ngày hôm sau thì tiễn nhau lên đường tập kết. Thời đó có ba sự hy sinh, đó là hy sinh xương máu, hy sinh sức lực và hy sinh tình cảm. Đang thắng lợi thì phải chia tay miền Nam, chia tay người thân tập kết ra Bắc. Sau chín năm kháng chiến gian khổ, nhiều người vừa gặp lại gia đình đã phải chia tay. Có người kịp tổ chức cưới trước khi đi, nhưng nhiều người mới chỉ làm lễ hứa hôn. Cũng không ít người không dám thề thốt với người yêu, vì linh cảm rằng sẽ có một cuộc chia tay kéo dài hơn như thế. Trong cái oai hùng ngày ấy phải đâu không có nước mắt ? Không ai trong chúng tôi ngờ được rằng, cuộc chia ly lịch sử này lại kéo dài đến hai mươi năm. Biết bao sự éo le mà chỉ có người trong cuộc mới hiểu và cảm thông hết được. Có người khi ra miền Bắc thì có vợ khác, người ở lại miền Nam cũng đi lấy chồng, nhưng không ít người đã dành cả tuổi xuân của mình một lòng thuỷ chung đợi chờ cho đến ngày hội ngộ. Dù trong hoàn cảnh nào cũng không thể đổ lỗi cho ai, mà chỉ có chiến tranh mới làm cho con người xa cách như vậy và cũng chiến tranh mới thử sức lòng chung thuỷ của con người đến mức cao độ như thế.
Mỗi người chúng tôi được phát năm đồng tiền cụ Hồ, gạo muối thì cấp phát theo chế độ, ngoài ra còn được nhân dân mang đến cho thêm từ quà bánh, gạo, nếp, gà, vịt... Hành trang, vũ khí của bộ đội được mang theo hết lên tàu. Thật ra hành trang cũng chẳng có gì, không có dày dép, chỉ có nón nan đan bằng tre. Bộ đội lúc đó không có gì nhiều, đánh giặc toàn mặc quần cụt (quần đùi), có anh em còn nói vui với nhau đi có hai năm thì đem theo nhiều để làm gì. Đến Vũng Tàu, chúng tôi được chuyển sang tàu buôn của Ba Lan (Kilinski) để đi tiếp. Khi tàu lặng lẽ hướng ra phía Bắc, mọi người đổ lên boong, dõi về đất liền, dải đất miền Nam xa mờ dần, tôi nghe lòng mình quặn lên, bao nhiêu người thân, đồng bào, quê hương đang ở lại. Ở lại trong sự kìm kẹp của kẻ thù... Lúc này vào mùa mưa bão, chuyến tàu của tôi đi khi ra ngoài biển thì gặp bão nên hành trình phải mất gần mười ngày mới đến Sầm Sơn (Thanh Hoá). Tàu Kilinski có lẽ là con tàu to lớn nhất mà tôi được thấy từ trước đến giờ, thế mà vẫn chỉ như cái lá giữa biển, vẫn chao lắc, đong đưa giữa những con sóng. Thương nhất là các chị em phụ nữ và trẻ em, mỗi đợt sóng lớn phụ nữ, trẻ em co cụm vào nhau, ôm lấy nhau khi tàu dốc lên, chúi xuống, giữa những đợt nôn ói dữ dội đến lả người. Đến nơi, tàu phải đậu cách đất liền chừng vài cây số, đồng bào phải huy động thuyền nhỏ chèo bằng tay để ra đưa mọi người vào bờ an toàn. Ở đây nhân dân chủ động hân hoan đón tiếp, đã xây dựng khu lán trại tập trung dọc bến để đón đồng bào, chiến sĩ miền Nam, thể hiện tình cảm đoàn kết Bắc Nam. Bến Sầm Sơn cũng là điểm đầu tiên quân dân miền Nam dừng chân, sau đó được di chuyển, phân công đến các địa phương khác ở miền Bắc để công tác, học tập và xây dựng kinh tế. Thời gian đầu ở miền Bắc, tôi cứ nghĩ về miền Nam, cũng đau đáu về quê hương, nơi quê nhà đang ngột ngạt trong thế kềm kẹp của kẻ thù. Lúc đầu cứ tưởng chừng chỉ hai năm rồi sẽ trở về nhưng chiến tranh ai biết trước được chữ ngờ ? Hai năm hay hai mươi năm, thời gian rồi cũng trôi qua, niềm hy vọng trở về với quê hương, xứ sở cuối cùng cũng thành hiện thực. Có lẽ, niềm hy vọng đó cũng là động lực giúp tôi luôn vươn lên và hoàn thành tốt nhiệm vụ dù trong bất cứ hoàn cảnh nào.
Sau khi ra Bắc, tôi được chuyển ngành, do đặc thù công việc nên tôi hoạt động khắp các tỉnh miền Bắc. Tôi có may mắn được gặp Bác ba lần, nhưng nhớ sâu sắc nhất là lần gặp Bác ở nhà máy điện Uông Bí (Quảng Ninh). Giờ nghỉ trưa, anh em công nhân đang ngủ, đoàn xe của Bác chạy đến, nghe bảo vệ nói anh em chạy ùa ra, Bác khoác tay bảo mọi người ngồi xuống để nghe Bác nói chuyện. Sau khi khen ngợi những nỗ lực của tập thể cán bộ, công nhân, nhân dân vùng mỏ. Bác nói: “Ngành than, sản xuất và khai thác than cũng như bộ đội chiến đấu, khai thác than để mua súng, mua đạn phục vụ cho chiến đấu”. Nói chuyện với cán bộ và công nhân, Bác nhắc nhở: “Cần phải tăng cường quản lý kinh tế, nắm vững kĩ thuật, giữ gìn kỷ luật lao động, thường xuyên học tập kinh nghiệm của chuyên gia… Công tác thiết kế và xây dựng phải làm cho chắc, cho kỹ. Tránh làm ẩu rồi phải chữa đi, chữa lại, vừa lãng phí sức người, sức của, vừa không tốt cho sản xuất. Phải tiết kiệm nguyên liệu, vật liệu. Phải giữ gìn tốt máy móc vì đó là do mồ hôi máu mủ của nhân dân mà ra”… Đến đâu Bác cũng không quên mang theo kẹo để cho mọi người, tôi cũng đứng để xin Bác kẹo, thấy tôi đứng khoanh tay Bác vỗ vai hỏi: “Cháu ở trong miền Nam, cháu ở tỉnh nào?”. Tôi đáp: “Dạ thưa Bác con ở Mỹ Tho”… Lúc đó, trước mặt tôi là hình ảnh một con người vĩ đại, nhưng những việc làm của Bác dành cho chúng tôi, những điều Bác dạy bảo chúng tôi đôi khi chỉ là những chuyện rất thông thường, giản dị nhưng đã làm tôi nhớ mãi như những điều thiêng liêng nhất của cuộc đời.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua nhưng những kỷ niệm về Bác như vẫn còn mới nguyên. Đó là hành trang quý báu tôi mang bên mình. Tấm gương của Bác, những tình cảm của Bác, luôn nhắc nhở chúng tôi, động viên chúng tôi phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ của cuộc sống. Đó là vinh dự, là niềm tự hào của của bản thân và thế hệ chúng tôi. Tôi tự hào, mãn nguyện vì đã có một thời trai trẻ như thế. Nay đã nghỉ hưu, nhưng với tôi, cuộc đời là một cuộc hành trình dài và cuộc hành trình ấy nay vẫn còn tiếp diễn. Bến Sầm Sơn nay đã có một tấm bia ghi dòng chữ: “Nơi đây, đảng bộ, chính quyền và nhân dân Sầm Sơn đã đón đồng bào miền Nam tập kết ra miền Bắc theo hiệp định Genève về Việt Nam”. Tôi và hơn hết là nhân dân Cao Lãnh cũng mong muốn địa danh bến Cao Lãnh sớm được công nhận di tích xứng tầm và có công trình lưu dấu sự kiện lịch sử đặc biệt này. Vì đó là chuyến tập kết đầu tiên và cũng là chuyến cuối cùng trong lịch sử dân tộc Việt Nam ta. Nước ta là một. Nam Bắc phải chung một nhà. Xin mượn lời bài thơ Gói đất miền Nam của nhà thơ Xuân Miễn để kết thúc những dòng hồi ức này:
“Con về Thủ đô
Đem dâng cụ Hồ,
Gói đất miền Nam.
Thưa dù núi cách, sông ngăn,
Đồng bào Nam bộ vẫn gần bên Cha.
Tình yêu thắm thiết đậm đà,
Nam là của Bắc, Bắc là của Nam...”.

20. LỠ HẸN… HAI MƯƠI NĂM
Ông Năm Sết kể,
Phạm Thị Toán ghi
 
Non nước mịt mù cảnh bao la
Bâng khuâng nhớ bạn lúc chiều tà
Biết thưở nào đôi ta tái ngộ
Đường dài ngựa chạy vẫn còn xa…”
Tôi đã viết những vần thơ thưở trai trẻ tặng cô Sáu Khinh ở Tân Quới, Hậu Giang khi cô tới nơi đơn vị đóng quân đưa tiễn tôi xuống tàu. Chỉ hai năm thôi, chúng tôi sẽ trở về. Thế mà….
          Tháng 01 năm 1954, lúc ấy tôi là trung đội phó thuộc đại đội 952, tiểu đoàn 313 nhận quyết định về học trường bổ túc cán bộ trung đội ở Cao Lãnh. Chúng tôi được nghe những bài giảng về tình hình chính trị, quân sự ở chiến trường miền Nam, Trung, Bắc. Tới tháng 7, ông Ngoạn, tỉnh đội trưởng tuyên bố kết thúc khóa học do đình chiến, học viên phải quay về đơn vị. Bẩy trung đội chuẩn bị tập kết ra Bắc, hai trung đội còn lại gồm các đồng chí trẻ, chưa bị lộ được lệnh ở lại rút vào hoạt động bí mật. Hồi hộp, lo lắng. Tôi còn nhớ lúc ấy trong đơn vị anh em hay truyền miệng câu khẩu hiệu: “Người đi vinh quang, ở lại anh dũng”.
          Các đơn vị chờ tập kết đóng quân từ kinh Sáu Quốc dọc theo sông Cao Lãnh tới Cầu Đúc. Dân vùng này có người theo đạo Hòa Hảo. Buổi sáng, tôi vô một nhà dân gần chợ Sáu Quốc hỏi cho anh em ở nhờ một thời gian để chờ ngày xuống tàu tập kết. Ông bà Ba chủ nhà không muốn chứa chấp bộ đội nên từ chối khéo: Nhà tôi chật chội, có con gái lớn nên không có chỗ, mong mấy chú thông cảm!. Không sao, vườn nhà mình rộng, chúng con xin ở ngoài vườn cũng được. Thôi tùy mấy chú….Trả lời miễn cưỡng rồi hai vợ chồng ông quầy quả đi chợ.
          Trước khi về đóng quân, chúng tôi đã sinh hoạt cho anh em, đây là vùng bị tâm chiếm. Bọn phản động cả thời gian dài đã ra rả tuyên truyền Việt minh giết người, cướp của, cưỡng hiếp phụ nữ….., đừng chứa chấp cộng sản. Thế nên dân ở đây có người sợ cách mạng. Bộ đội không được tơ hào từ cái kim đến sợi chỉ của dân chứ đừng nói đến cái gì lớn hơn. Ai vi phạm sẽ bị kỷ luật rất nặng.
Chúng tôi dọn dẹp ngoài vườn, chặt lá chuối trải dưới tán cây trong vườn làm chỗ nằm. Xong xuôi cho anh em quét dọn, làm cỏ sạch sẽ xung quanh nhà, chẻ củi, nấu cơm, nấu nước cho chú thím Ba, hớt tóc, tắm rửa cho đám con nít, dạy mấy đứa nhỏ trong xóm hát những bài ca cách mạng. Sức thanh niên đâu nhỏ…
Tới chiều tối vợ chồng chú về. Đứng ở cổng nhà, nhìn xung quanh sạch sẽ trống trải, chú thím xúc động, ứa nước mắt: “Các chú tốt quá, tại tụi tui nghe lũ xấu tuyên truyền bậy. Thôi vô nhà đi, đừng ở ngoài vườn muỗi mòng sao ngủ được”. “Không sao đâu, tụi con quen cực khổ rồi…”.
          Nói mãi mấy anh bộ đội không chịu, vợ chồng chú thím Ba liền ra vườn đem hết đồ đạc của anh em vào nhà rồi lục đục nấu cơm, làm đồ ăn cho bộ đội ăn luôn từ chiều hôm đó tới tận ngày anh em xuống tàu. Tình cảm ngày càng sâu nặng. Thậm chí sau ba tháng đến ở, gần ngày đi chú thím còn rủ rỉ khuyên tôi ở lại, hứa sẽ gả đứa con gái lớn mới hai mươi tuổi rất dễ thương cho nữa. Bộ đội ra đi, chú thím và bà con cô bác cứ bịn rịn, khóc ròng….
          Thực tình mà nói tôi không muốn đi tập kết. Tôi muốn ở lại không phải vì má tôi hăm he đòi tự vận nếu tôi ra đi, hay ở lại hy vọng sẽ có vợ đẹp, con khôn, gia đình hai bên lo tiếp. Má tôi, bà sợ tôi chết vì chìm tàu do tụi địch tung tin trong những ngày này: Ai lên tàu ra đến biển sẽ làm mồi cho cá mập, đừng có mong ra được ngoài Bắc. Mà bởi lúc ấy có thằng Ruộng, thằng Hải đều là tiểu đội trưởng cùng trung đội cũng có suy nghĩ giống tôi: “Chết thành cỏ, sống đỏ ngực”. Tôi tự nhủ lòng: Là con trai thời chiến, yêu thì yêu nhưng phải tới ngày độc lập mới cưới. Ba đứa chúng tôi đã giấu mỗi đứa một súng carbin, một cây súng lục. Suy nghĩ bồng bột thật tức cười: Tính ở lại cướp của kẻ giàu, chia cho người nghèo, kiểu anh hùng Lương Sơn Bạc bên Tàu bởi biết ở lại, không tuân lệnh là đào ngũ, chắc “đằng mình” cũng không cho trở lại hoạt động. Lúc ấy tôi mới 24 tuổi, chiến đấu thì hăng nhưng lại rất hay quậy phá….  Không biết do ai báo mà cấp trên biết được “âm mưu” của nhóm chúng tôi. Một mặt vận động, tuyên truyền, một mặt quản lý gắt gao vũ khí, ba đứa không thực hiện được ý đồ ở lại, đành phải ngậm ngùi chia tay người thân lên tàu.
          Ngày ra đi, cứ bốn người một hàng hành quân đi bộ từ Sáu Quốc ra bến Bắc Cao Lãnh. Hai bên đường rất đông dân đứng đưa tiễn. Anh em giơ hai ngón tay vẫy chào tạm biệt, kẻ đi, người ở ngầm hiểu chỉ hai năm thôi, rồi chúng tôi sẽ trở về. Hãy chờ, ráng chờ đợi nhé những người đã lỡ hẹn hò, thề thốt trao trái tim cho nhau…… Chiếc tàu há mồm của Pháp rất lớn, bề ngang khoảng 10 mét, chiều dài cỡ ba chục mét đã chờ sẵn ở đó “nuốt” hết cả một đoàn quân, ì ạch nổ máy ra khơi.
          Khi mới xuống tàu, thằng quan Ba Pháp và cả tiểu đội bảo vệ còn kiếm chuyện rút “lù” trên tàu. Nước tràn lênh láng sàn tàu. Anh em bộ đội phản ứng dữ dội. Sợ ra biển có bất trắc, trung đội tôi đồng loạt lên nòng súng nhằm vào bọn lính trên tàu hăm dọa. Chúng sợ quá vội lấy đồ chui xuống hầm tàu, lau sạch sàn tàu cho khô ráo. Tàu chạy thẳng ra Cấp (Vũng Tàu). Nơi ấy có tàu Liên Xô đón đợi bộ đội, nhân dân và học sinh miền Nam đi tập kết.
          Liên tục ba ngày ba đêm lênh đênh trên biển, hết lương khô, bánh tét, rồi cơm khô, cơm sấy…., đúng ngày mùng một tết âm lịch 1955 tàu cập bến tại Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa, chúng tôi đặt bước chân đầu tiên lên mảnh đất miền Bắc thân yêu và sau đó là hai mươi năm với bao nhiêu ngày đêm trông ngóng về Nam….

21. BẦU TRỜI ÔM TRỌN QUÊ HƯƠNG
Anh hùng LLVT Đại tá Nguyễn Văn Bảy kể,
Phạm Thị Toán ghi
 
Tôi tham gia cách mạng khi còn nhỏ khi mới 15 tuổi, thân hình thì ốm nhách, đen nhẻm, rất tình cờ và cũng không nghĩ là mình đã làm cách mạng. Vùng nầy ban ngày chúng quản lý, ban đêm là của cách mạng. Mấy chú Việt Minh toàn người địa phương thường ghé nhà nói chuyện nên cũng thích, có cảm tình chứ lúc ấy thiệt tình mà nói tôi chưa biết giác ngộ hay yêu nước là gì. Do có người quen cùng làng là lính trong đồn địch, mấy chú mấy bác cách mạng kêu tôi nắm tình hình trong bót Bà Hà (rạch Bà Hà) ra sao rồi về báo. Tôi thường chống xuồng chở chúng đi bắn chim trong đồng rồi tình cờ hỏi chúng, sau đó về kể cặn kẽ cho mấy chú.
Đình chiến 1954, không khí nhộn nhịp, thấy mấy chú mặc quần áo bộ đội mang súng, khoái quá, vả lại gia đình bắt cưới vợ tôi không muốn, bây giờ có cơ hội tôi trốn nhà đi theo, nhập vào Trung đội địa phương của huyện Lai Vung. Do không có tên trong danh sách ở Trung đội nên không có sanh hoạt phí, quân trang. Đâu có sao! Tôi đã đem theo hai cái áo bà ba và hai cái quần cụt đủ thay. Còn ăn uống thì ….ăn chực. Buổi sáng tôi thường xuống sông mò cá, mò ốc, bắt chuột. Mà những thứ nấy hồi đó ở đâu cũng sẵn và “tay nghề” tôi hơi cao. Xuống sông một hồi là có hơn nửa thau cá, ốc đem lên góp vào bếp ăn đơn vị, cơm thì ăn ké. Kéo dài cả tháng, đơn vị mới kêu anh Ba tôi đang công tác ở xã đội tới hỏi: Có cho thằng Bảy đi không? Thấy em muốn đi quá, biết không cản được, anh tôi đành gật đầu và sau đó tôi mới có tiêu chuẩn chính thức trong đơn vị, được phát súng, phát quần áo….
Vào đơn vị ai làm gì tôi làm nấy: tối đi canh gác theo ca trực, ra Long Hậu tuyên truyền chiến thắng Điện Biên Phủ. Tháng 7/1954 đơn vị được lịnh qua Cao Lãnh chờ ngày đi tập kết. Cả trung đội Lai Vung có 30 người hành quân về Hòa An thì xã tôi có 5 người đi là các anh: Mười Huệ, Bảy Tỉnh, Màng, Trần và tôi. Khi tới Cao Lãnh tôi mới viết thơ về báo tin cho gia đình biết. Sau đó má tôi qua thăm trước khi tôi đi vài ngày. Đi tập kết thì tôi khoái rồi. Ra Bắc cho biết Hà Nội. Còn kỷ niệm sâu sắc nhứt ở Cao Lãnh tôi nhớ, đó là hầu như đơn vị nào trước khi đi cũng ghé thắp nhang mộ Cụ Phó Bảng Nguyễn Sanh Huy. Lúc đầu các đơn vị tới viếng mộ Cụ, sau khi thắp nhang thường nhổ cỏ, vệ sinh quanh khu mộ nên sau đó xung quanh khu vực mộ thường rất sạch sẽ, chẳng còn cỏ rác mà dọn mà nhổ nên tới chỉ thắp nhang. Tuy không nói ra nhưng trong thâm tâm ai cũng nghĩ một điều quan trọng nhứt: Ra Bắc gặp Bác sẽ thưa với Bác, chúng con đã thay Người thắp nén nhang cho Người thân sinh để Bác cũng ấm lòng hơn. Thế mà sau này tôi may mắn hơn các anh em khác, rất nhiều lần được gặp Bác mà khi gặp chỉ lo nhìn Bác, xem Bác có khỏe không để Bác hỏi gì trả lời nấy, chẳng còn nhớ gì việc thưa với Bác điều này. Về cứ tấm tức trong bụng hoài.
Khoảng 9 - 10 giờ đêm tháng 10/1954, chúng tôi hành quân xuống bến Bắc Cao Lãnh. Đi chuyến này rất đông, chúng tôi phải đứng dưới tàu suốt từ Cao Lãnh ra tới Cấp Săng - rắc vào khoảng 6 giờ sáng hôm sau được chuyển qua tàu Ba Lan. Xuống tới tàu Ba Lan thì thoải mái, ăn uống, chỗ nằm đàng hoàng. Con tàu quá lớn, dù người đông nhưng vẫn nhẹ bâng với trọng tải con tàu. Cả tuần lênh đênh trên biển vì chuyến đi gặp bão lớn. Anh em toàn dân đồng bằng, có ai đi đâu mà biết tới biển nên hầu hết bị say sóng tơi tả, ăn rất ít. Trước khi đi, mấy mẹ, mấy cô có cho bánh tổ đem theo (nếp xay nhuyễn, nhào nặn bằng cái tô, bỏ đường hấp, phơi khô ăn giống bánh phồng, ăn phải xắt từng miếng nhỏ) mà có ăn nổi đâu.
Ra tới Bắc đơn vị di chuyển từ Thanh Hóa, về Thái Bình, Nam định, sau đó về đóng quân ở Xuân Mai, Hà Tây. Chúng tôi thuộc lính bộ binh. Ở đây một thời gian thì một bữa có đoàn bác sĩ của Bộ Quốc phòng tới khám sức khỏe để tuyển phi công. Cả hai sư đoàn ở miền Nam ra và mấy sư đoàn của miền Bắc khám họ chỉ tuyển được ba người trong đó có tôi. Trong ba người thì có một anh kiểm tra lần cuối cũng không đạt. Cuối cùng chỉ còn tôi và anh Trần Trim quê ở Hồng Ngự trúng tuyển (năm 1966 anh đánh nhau bị địch bắn hạ, hy sinh). Tôi cũng chưa bao giờ nghĩ mình lại quá may mắn như vậy. Cả mười vạn người chứ có ít đâu mà cũng trúng tuyển được. Đây là trúng về sức khỏe, về dáng vóc thôi chứ nếu nói về văn hóa thì chắc tôi bị rớt ngay vòng đầu bởi tôi mới học xong lớp 3, chưa tốt nghiệp tiểu học. Có lẽ quân đội cũng ưu tiên dân miền Nam chớ hầu hết lính toàn nông dân rồi vào bộ đội, học hành cũng nhiều người “nghêu ngao” như tôi cả. Nghĩ lại cũng mắc cười, nghe như chuyện tiếu lâm, nói ra chưa chắc ai tin. Đi xe máy bây giờ trên 100 phân khối phải thi bằng lái, học lớp 3 như tôi, đi thi chắc bị rớt cái ạch chứ đừng nói học lái máy bay! Ấy thế mà cũng xong.
Lúc ấy ở ngoài Bắc chương trình có 10 năm. Tức cười, thầy giáo hướng dẫn cấp tốc 7 ngày 7 lớp, mỗi ngày học một lớp để kịp qua Liên Xô học lý thuyết và thực hành. Lúc đi qua cửa khẩu, Phái đoàn Ủy ban Quốc tế kiểm soát rất chặt (đặc biệt qua Trung Quốc, qua Lào và Cămpuchia chúng ít để ý). Chúng tôi phải giả là công nhân qua học nghề. Học lý thuyết thì khó hơn học lái. Tôi phải biết tại sao máy bay bay được, làm quen với lực nâng, lực kéo, lực cản….Lúc đầu học bay máy bay thể thao, sau mới học máy bay YaK-52, Mig 15, Mig 17. Mỗi máy bay chiến đấu thường chỉ một người lái. Bay lộn nhào chiến đấu hay biểu diễn dễ hơn rất nhiều so với bay thẳng từ sân bay này tới sân bay kia vì phải tính vận tốc bay, vận tốc gió để hạ cánh được đúng sân bay.
Ngày 05/4/1965, sau ba năm học thành thạo máy bay chiến đấu, tôi trở về Việt Nam. Lúc này Mỹ đang ném bom dữ dội ở miền Bắc. Ở dưới đất nghe bom Mỹ bỏ ầm ầm xuống gần sân bay cũng hơi ngán, chỉ sợ mình chết không được về Nam. Nhưng khi tôi đã cất cánh bay lên trời thì chẳng còn biết sợ là gì nữa, chỉ suy tính nhanh lẹ để tránh hỏa lực địch, tận dụng sơ hở của chúng để bắn hạ chúng bởi thường khi chúng tôi bay lên, gặp máy bay địch rất đông và hiện đại hơn nhiều lần, lúc nào cũng muốn “ăn tươi, nuốt sống” máy bay của ta. Lúc ấy chúng tôi rất thích bài hát Phi đội ta xuất kích do Nghệ sĩ Nhân dân Tường Vi sáng tác và ca sĩ Bích Việt hát, nó đi vào lòng người và thật đúng với tâm trạng anh em phi công:
Yên sao được miền Nam đang kêu gọi/ Thúc giục ta vươn lên lập chiến công
Miền Nam ơi! Vì quê hương chắc tay lái trong tay/ Nhằm thẳng lũ cướp nước xông tới/ Mẹ hiền ơi! Tổ quốc ơi!/ Con hiến dâng Người cả trái tim này
Phi đội ta xuất kích, ra đi là mang chiến thắng trở về.
          Thế rồi chúng ta đã chiến thắng giòn giã. Gần như mỗi lần cất cánh là bắn hạ một máy bay của Mỹ, có khi hai ba chiếc.
Rộn ràng tung cánh bay phi đội ta xuất kích/ Đại bàng vút cao trên trời mây
Trận đầu ta đã mang chiến thắng/ DângTổ quốc mẹ hiền mến yêu
Tôi đã trực tiếp bắn rơi 4 máy bay, không kể cùng đồng đội bắn hạ hơn chục chiếc nữa thì được phong Anh hùnh Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Cứ mỗi lần bắn rơi được một máy bay, Bác đều gởi quà tặng cho phi công. Tới khi anh em bắn máy bay rơi nhiều quá, hết đồ kỷ niệm, Bác kêu Văn phòng Trung ương làm huy hiệu để Bác tặng. Mỗi lần Bác xuống thăm đơn vị hay được lên thăm Bác, anh em đeo hết trên ngực, nhìn là biết ngay đã bắn được bao nhiêu máy bay để Bác thưởng thêm. Ngoài số huy hiệu, Bác còn tặng tôi một chiếc đồng hồ Poljot của Liên Xô, mặt sau bằng vàng 18K, dây da do Đảng Cộng sản Liên Xô tặng Bác nhân kỷ niệm 50 năm thành lập Đảng Cộng sản Liên Xô. Bắn rơi thêm 3 máy bay nữa thì Bác chỉ đạo không cho tôi được bay chiến đấu, mà cho tôi ở dưới sân bay huấn luyện lớp trẻ. Lúc ấy tôi cũng suy nghĩ, bứt rứt nhưng chưa hiểu, tại sao đang hạ máy bay “rụng ngon lành” như vậy mà phải ngồi dưới đất. Chiến tranh đang lúc “dầu sôi, lửa bỏng”, nếu không có máy bay ta chặn đánh thì không biết còn bao nhiêu nhà máy, trường học, những thành phố, xóm làng miền Bắc bị phá hoại tan hoang. Sau này mới biết Bác sợ tôi hy sinh, không về giải phóng miền Nam, tôi càng xúc động, yêu quí Bác vô cùng. Tôi có may mắn hơn nhiều anh em đi tập kết bởi được gặp Bác nhiều. Bác rất ưu ái phi công, gần gũi như cha con, hay xuống thăm đơn vị và chúng tôi cũng thường được Bác cho vào thăm. Còn nữa, Bác có trí nhớ rất tốt. Chỉ mới gặp một lần, Bác hỏi tên. Thế mà những lần sau gặp, Bác hỏi tôi cháu Bảy ở Sa Đéc, chỉ anh Mẫn nói cháu Mẫn ở Bến Tre có khỏe không, chiến đấu tiến bộ chứ…..Bác ơi, sao Bác lại không chờ được ngày thống nhất để con lái máy bay chở Bác vào thăm đấng sinh thành….
Một kỷ niệm rất sâu sắc trong cuộc đời, có lẽ tới chết không bao giờ tôi quên được trong những ngày Bác mất. Đó là tôi được vinh dự bồng súng đứng sau linh cữu Bác (15 phút thay ca), sau đó trực tiếp bay và chỉ huy 12 chiếc máy bay bay qua Quảng trưởng Ba Đình vĩnh biệt, đưa tiễn Bác. Trong đau thương, nước mắt nghẹn ngào, tôi cố bình tĩnh để làm tròn nhiệm vụ được giao, cùng đồng đội không được để sơ xuất gì dù nhỏ và chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ. Bắn rơi 7 máy bay, tôi được xếp vào cấp “Ách”. Trước khi nghỉ hưu tôi đã được giao nhiều chức vụ quan trọng: Trung đoàn trưởng Trung đoàn không quân 937, Phó Tư lệnh Sư đoàn 372, Phó Tham mưu trưởng Quân chủng không quân Việt Nam. Là đại biểu Quốc hội khóa IV, nửa khóa V tới giải phóng. Năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước tôi được giao tiếp quản sân bay Cần Thơ và tham gia điều hành các sân bay Tân Sơn Nhất, Biên Hòa và làm nhiệm vụ tại Cămpuchia.
Giờ đây tôi đã được trở về quê hương Đồng Tháp sống một cuộc sống điền viên bên gia đình. Thời gian trôi đi nhanh quá. Mới đó mà đã sáu mươi năm từ khi chúng tôi ra Bắc. Cám ơn Đảng, cám ơn Bác đã nâng bước cho tôi được chiến đấu bảo vệ bầu trời miền Bắc và chiến thắng vẻ vang kẻ thù, góp phần cho thắng lợi sau cùng - Đại thắng Mùa Xuân năm 1975. Và chúng tôi đã RA ĐI VINH QUANG đúng như lời hứa trước khi xuống tàu tập kết.
22. TÔI LẠI VỀ ĐÚNG NƠI MÌNH TỪ ĐÓ RA ĐI
                                           Ông Ngô Phúc (Ngô Quỳ) kể
Hữu Nhân ghi
 
          Tôi sinh năm 1938 ở Tân Hội, Hồng Ngự. Vùng này hồi đó do giáp ranh với Cao Mên nên có rất nhiều đơn vị ta đóng quân và qua lại hoạt động. Vì lẽ đó mà gia đình tôi biết đến hai chữ Việt Minh rất sớm. Năm 1942, vừa tròn 18 tuổi tôi đã tham gia vào đội giao liên Khu 8 do đồng chí Trần Văn Tước làm Trưởng trạm đóng tại Rạch Tre nằm trên trạm biên phòng Cầu Muống của ta ngày nay non cây số.
          Đầu tháng 7/1954 tôi và một số anh em trong trạm được phổ biến rời khỏi đơn vị đi nhận nhiệm vụ mới nhưng không biết là nhiệm vụ gì. Sau khi bàn giao công tác xong mới biết mình nằm trong diện được tập kết ra Bắc. Trước khi xuống Cao Lãnh, tôi được nghỉ phép 15 ngày về thăm gia đình ở Cây Dừa, gần trụ sở Ủy ban Nhân dân xã Tân Hội ngày nay.
          Sau đó thì 3 người một xuồng thay phiên nhau bơi. Đói dừng lại nấu cơm ăn rồi đi tiếp. Từ Sở Hạ, chúng tôi qua Cái Cùng ra Tân Thành xuôi theo kinh Nguyễn Văn Tiếp đến Phong Mỹ rồi lội bộ xuống Mỹ Ngãi. Lúc đó ngoài đồng nước đã ngập ngang ống chân. Tôi được bố trí vào một tổ 6 người ở trong một gia đình phía sau chợ Mỹ Ngãi chỗ bệnh viện Đa khoa tỉnh bây giờ. Ổn định chỗ ở được đâu một tuần thì chúng tôi được phép đi lại. Được ra tham quan cả chợ Mỹ Ngãi. Hồi đó,  nhà cửa rất thưa thớt, khu vực chợ không có điện chỉ một vài nhà bán buôn kha khá một chút thì thắp đèn măng-sông. Có bữa, bên này tụi tôi đang đi dọc theo chợ nhìn bà con mua bán thì nghe bên sông, khu vực Hòa An có tiếng súng nổ. Ai nấy ngạc nhiên vì có lịnh ngừng bắn lâu rồi nhưng cũng cảnh giác nên lập tức quay về chỗ ở súng ống trong tư thế sẵn sàng. Nhưng cả đêm, không có chuyện gì xảy ra nên anh em thở phào nhẹ nhõm. Sau hỏi ra mới biết bọn lính Bảo an của lực lượng Hòa Hảo cố tính gây sự. Thấy hơi căng nên trên lịnh xuống cho bọn tôi phải canh gác cẩn thận nhất là khi tối trời sợ đám này làm ẩu. Quả thiệt vậy. Ba đêm sau đó, tôi đang gác trước nhà thì nghe phía sau nhà có tiếng động. Chạy ra, thấy đồng chí Nguyễn Việt Thắng bị chúng dùng câu liêm giựt ngang cổ ngã lăn ra máu me lênh láng. Thấy bị phát hiện, chúng vứt chiếc câu liêm lại rồi chạy vào vườn chuối um tùm. Do không rành địa hình và còn phải lo cho đồng chí Thắng nên chúng tôi đành nghẹn uất trong lòng nhìn chúng chạy thoát. Nghe tiếng chân ít ra cũng hai thằng. Vậy là vừa đi vừa chạy thay nhau cõng đồng chí Thắng xuống trạm xá của tỉnh đóng gần phường II ngày nay băng bó. May chỉ trầy sướt ngoài da nên vài ngày vết thương trên cổ đồng chí Thắng lành lại để kịp xuống tàu với đơn vị.
          Dân chợ Mỹ Ngãi đối với anh em Vệ quốc đoàn chúng tôi bằng một thái độ rất dè dặt. Có lẽ, bà con sợ khi chúng tôi rút đi thì không biết bọn chúng sẽ gây khó dễ nên chỉ đến gần mà không dám bộc lộ tình cảm thân thiện. Ngày, chúng tôi viết truyền đơn, khẩu hiệu, băng ron có nội dung ủng hộ Hiệp định Genève, hoan nghinh chiến thắng Điện Biên Phủ treo dán khắp nơi. Những tấm khẩu hiệu nhỏ thì dán trước cửa nhà dân. Nhà nào không cho thì dùng cây treo gần đó cho bà con thấy.
          Tối tụ tập lại sinh hoạt văn nghệ. Chừng như sau lần bọn lính Hòa Hảo khủng bố chúng tôi không thành đó, chúng không còn dám bén mảng trở lại. Văn nghệ cũng cốt ý là để tuyên truyền cho bà con hiểu thêm về Việt Minh. Cũng hát múa, cải lương đủ thứ mọi tiết mục. Phần lớn là tự diễn chớ có ai chỉ ai. Không có nữ thì lựa anh em nào nhỏ nhỏ con một chút hóa trang thành nữ. Vậy mà cũng thành tuồng thành tích hẳn hoi khiến bà con vừa xem vừa vỗ tay khen ngợi không ngớt.
          Chúng tôi được vinh dự chọn đi trong đợt đầu tiên. Ngày 3/10/1954, đơn vị tôi được lịnh tập hợp thành 2 hàng dọc đi dọc theo lộ 30 xuống Cao Lãnh rồi thẳng ra bến Bắc. Đi thì đi hàng 2 nhưng xuống tàu thì xếp hàng 4 để cố ý cho một số anh em bộ đội tình nguyện người Cam pu chia theo ta ra Bắc. Đoàn tôi có 6 người, nhưng bị chúng phát hiện ra hai người, phải ở lại. Chiều 3/10 tàu của Pháp chở chúng tôi rời Cao Lãnh chạy một mạch trong đêm. Mờ sáng ngày 4/10 chúng tôi đã tới Vũng Tàu. Tới nơi, nhìn chiếc tàu Ba Lan chở chúng tôi ra Bắc ai nấy lắc đầu lè lưỡi. Tàu cao năm sáu tầng nghều nghệu. Từ trên tàu, thang dây được thả xuống để anh em leo lên. Tới nước này mà thằng Pháp còn giở trò. Sóng biển thì lắc lư mà chúng cứ cho tàu giạt ra giạt vô liên tục khiến anh em leo lên thang vô cùng khó khăn. Có một chị y tá trong đoàn chúng tôi vừa bám tay vào thang dây thì chúng cho tàu giạt ra thật nhanh khiến chị mất đà rơi tõm xuống biển. Từ trên tàu Ba Lan, nhanh như cắt thảy xuống một chiếc xuồng rồi một người nhảy theo vớt kịp vớt chị lên. Một người, chắc là chỉ huy tàu mặt hầm hầm leo xuống thang dây, nhảy qua tàu Pháp và tát cho tên chỉ huy Pháp hai bạt tay. Từ đó tới sau chúng mới chịu neo đậu đàng hoàng cho anh em leo lên. Bài học tinh thần quốc tế vô sản đầu tiên của cuộc đời tôi có lẽ từ hành động này của người chỉ huy tàu Ba Lan. Khi lên tàu rồi tôi mới thấy rõ chiếc tàu của người anh em Ba Lan lớn đến nỗi dưới tầng hầm có cả một chuồng bò với hơn chục con. Hỏi ra mới biết đó là nguồn lương thực tươi sống dự trữ cho những chuyến đi xa phòng khi gặp dông bão. Anh em thủy thủ Ba Lan gặp chúng tôi là vẫy tay: Hồ Chí Minh ! Phạm Văn Đồng !  Chỉ bao nhiêu đó thôi cũng đủ thấy tình cảm của họ đối với Việt Nam thân thương như thế nào.
          Ngày 6/10/1954, chuyến tàu đầu đưa những người con miền Nam ra Bắc đến Thanh Hóa. Tôi được phân công vào học ở trường số 1 dành cho học sinh miền Nam ở Thanh Hóa rồi chuyển sang trường số 16 tại Đa Sĩ (Hà Đông). Năm 1959, vừa học xong chương trình phổ thông, tôi được chuyển về Hải Dương để khám tuyển vào không quân chung với anh Nguyễn Văn Bảy ở Lai Vung và anh Trần Chiêm cũng ở Hồng Ngự. Anh Nguyễn Văn Bảy sau trở thành anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân còn anh Trần Chiêm thì hy sinh ở Thái Bình trong một lần truy kích máy bay địch bị trúng đạn bốc cháy. Riêng tôi, sau khi dự lớp huấn luyện xong, sức khỏe không cho phép lái máy bay Míc ở độ cao nên được bố trí lái máy bay dân dụng An-72 của Liên Xô chở khách các tuyến Hải Phòng – Điện Biên – Nà Sản. Khoảng giữa năm 1964, tôi nhận được lệnh điều động do chính đại tướng Võ Nguyên Giáp ký đưa một đồng chí đại tá của ta sang tham dự một cuộc họp ở Lào. Trên đường đi Viên Chăn, nào ngờ khi bay ngang qua cánh đồng Chum, tôi bị bọn thổ phỉ Lào bắn trúng. Khi biết máy bay trúng đạn, tôi nhanh chóng báo về chỉ huy sở rồi cùng đồng chí đại tá nhảy dù xuống một cánh rừng dày đặc trên đất Lào. Cả hai đang lò dò thì bị du kích Lào bắt giữ. Anh em nghi chúng tôi là gián điệp hay biệt kích gì đó nên vừa hỏi vừa đánh khiến tôi chịu nỗi oan ức mà không sao giải thích được. Vì vậy, mỗi khi bị đánh tôi cứ nằng nặc đòi giải chúng tôi lên trên. May thay, trên đường giải đi vừa tới chỉ huy tiểu đoàn bộ của Lào thì bên ta cũng đưa máy bay đến đón chúng tôi về.
          Sau trận đó, tôi phải nằm viện cả tháng trời mới khỏi. Vừa ra viện xong thì nhận được giấy báo sang Ki-ép học khóa đào tạo chỉ huy bay (nay gọi là không lưu). Năm 1966, học xong khóa đào tạo trở về nước thì sức khỏe tôi lại không đảm bảo cho công việc này. Tôi chuyển công tác sang Bộ Tài chính và vào học Đại học Tài chính Kinh tế. Năm 1970, tốt nghiệp Đại học, tôi được điều động vào Sở Tài chính đặc khu Vĩnh Linh cho đến năm 1973 khi ta giải phóng xong Quảng Trị. Tưởng mình an phận ở đây nào ngờ lại được điều trở về Hà Nội tập trung để chuẩn bị đi B. Xe lửa đưa tôi vào đến Nghệ An. Từ đây, cả đoàn lên xe tải theo đường Trường Sơn Tây vào Nam. Tôi đến Phước Long vào giáp Tết năm 1973. Rồi lại vào Trảng Bom về khu căn cứ R. Các anh ở R lại phân công tôi về T2 lúc này đang đóng ở Rạch Tre phụ trách công tác kinh tài cho khu 8.
          Năm 1954 tham gia cách mạng từ Rạch Tre tôi ra miền Bắc tập kết với vài ba chữ I tờ bập bẹ. Sau 20 năm, tôi lại được trở về chính nơi mình ra đi với tấm bằng đại học trên tay và không biết bao nhiêu những kiến thức khác. Số phận con người trong chiến tranh đôi khi nghĩ lại cũng kỳ lạ thật.
          Năm Ngọc - em trai tôi lúc đó là chỉ huy trưởng huyện đội Hồng Ngự đưa tôi về thăm nhà. Ba mất lâu rồi. Chỉ còn lại một mình má tôi. Thằng Út Cảnh cũng tham gia cách mạng. Thấy má lầm lũi một mình, tôi thoáng buồn nhưng nghĩ lại mình vẫn còn may mắn hơn bao đồng chí mình. Có người sau tập kết trở về, gia đình ly tán, nhà cửa cháy rụi, không còn một người thân nào. Thậm chí mồ mả cũng bị địch bắn phá tan nát. Thiệt còn gì xót xa hơn.
          Mãi cho đến giờ, đã qua cái tuổi thất thập cổ lai hy nhưng những kỷ niệm về tập kết ra Bắc, về anh em, đồng đội tôi ngày ấy vẫn mãi luôn sâm đậm trong lòng tôi. Với tôi, những ngày đó là một phần máu thịt của chính mình.
23. NHỮNG NGƯỜI B TRỤ
 
Bà Lê Thị Huệ kể,
Phạm Thị Toán ghi
 
          Năm 1951 tỉnh Sa Đéc sát nhập với Long Châu Tiền thành tỉnh Long Châu Sa, tôi là Ủy viên Ban Chấp hành Phụ nữ tỉnh. Vào tháng 7/1953 tôi về Mỹ Ngãi chuẩn bị để sanh con, được Ban Chấp hành phân công phụ trách Ban Chấp hành phụ nữ xã Mỹ Ngãi cho thuận tiện. Sau khi sanh con đầu lòng được tám tháng, tôi tổ chức lớp bình dân học vụ ở kinh Ông Kho - song song với kinh Nguyễn Văn Tiếp A, cho các em học sinh trong vùng giải phóng và con em ngoài vùng địch chiếm đóng ở Mỹ Ngãi, Hòa An. Tôi nhớ trong số học sinh theo học thời kỳ này có bốn em sau này trở thành cán bộ cách mạng, trong đó có Phan Khôi, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Lớp có ba giáo viên đứng lớp là: Anh Gô, cô Lệ (dạy các lớp 1,2,3) và tôi dạy lớp cao hơn. Đình chiến, anh Gô về Tiền Giang, cô Lệ về miền Tây đi tập kết, chỉ còn một mình tôi dạy tất cả các lớp nầy.
          Gần tới ngày ký Hiệp định, tin chiến thắng dồn dập bay về. Tất thảy mọi người dân, cán bộ, bộ đội đều vui mừng khôn xiết. Khi Hiệp định chính thức được ký kết, tôi đang dạy học ở Mỹ Ngãi cũng xin nghỉ mười ngày, ẵm con ra Cao Lãnh mừng chiến thắng. Lúc ấy chồng tôi - ông Năm Hựu phụ trách thông tin văn hóa đang tuyên truyền chiến thắng của ta ngoài quận lỵ Cao Lãnh, bởi ban đầu tỉnh dự kiến ông đi tập kết nên cho ra công khai.
Không khí trong những ngày này không thể tưởng tượng nổi. Trên bờ tấp nập xe cộ - xe jeep của quân đội, xe đạp của dân, không có các loại xe máy như bây giờ, dưới sông là xuồng ghe - đa phần là xuồng bơi tay, ít xuồng máy của dân, chủ yếu là thân nhân đi tiễn đưa bộ đội. Dân, bộ đội, cán bộ ở các nơi nườm nượp kéo về Cao Lãnh rất đông, vô ở ngay trong các nhà dân. Tình quân dân thể hiện rất rõ - gắn bó mật thiết, keo sơn và dân rất thương bộ đội. Nhân dân không những nuôi các anh bộ đội mà còn nuôi cả thân nhân của họ, mặt dù cuộc sống bà con cũng không khá giả gì. Cứ mỗi buổi chiều, bộ đội tập trung các cháu lại, dạy những bài hát rất vui nhộn như: Kết đoàn, Mùa hoa nở…. Không còn kẻ địch, không còn chiến tranh và bom đạn, chết chóc. Dân thì chỉ biết hôm qua là chiến tranh, nay đã hòa bình nên rất sung sướng, hồ hởi.
          Đang những ngày vui chiến thắng ấy, do chưa bị lộ, hai vợ chồng tôi được lịnh ở lại, không đi tập kết nữa. Trong khi anh em lần lượt xuống tàu vui vẻ, tôi vội thu dọn đồ đạc trở về kinh Ông Kho - căn cứ kháng chiến của ta lúc ấy, mà không thể ra đưa tiễn anh em được dù trong lòng rất muốn. Chấm dứt một trăm ngày tập kết, Pháp trở lại, bọn ngụy quân đóng đồn Cầu Xây và Thống Linh, lớp học giải tán. Dọc kinh nầy hầu như nhà nào cũng nấu rượu, nuôi heo. Để có một cái nghề sinh sống, hoạt động, tôi cũng đắp lò, học bà con nghề nấu rượu, làm bánh bán. Ở đây chúng tôi được học tập rất kỹ, muốn thuộc lòng về đường lối cách mạng miền Nam và nội dung của Hiệp định Genève. Có sự chuyển hướng trong đấu tranh cách mạng phù hợp với tình hình. Lúc trước, ta chủ yếu đấu tranh võ trang thì bây giờ chỉ được đấu tranh chính trị hòa bình. Chi bộ đả thông nhưng tư tưởng anh em rất căng.
Tuy dân không nghĩ nhưng ta khẳng định: Mỹ đã nhảy vào nhất định chúng sẽ lật lọng. Đường lối của Đảng chỉ thị chúng ta phải nghiêm chỉnh thực hiện Hiệp định, không cho địch có cái cớ để đàn áp, bắt bớ những cán bộ kháng chiến. Đường lối của Đảng thì chúng tôi bắt buộc phải thi hành nhưng trên thực tế, nhiều đảng viên, cán bộ ở lại rất băn khoăn, lo lắng: Địch ngoài “sáng”, ta ở trong “tối”, nếu ta chỉ đấu tranh chính trị thôi thì liệu có thắng nổi không?!. Tổ chức Đảng và đoàn thanh niên vẫn còn nhưng lui vào hoạt động bí mật. Các tổ chức mặt trận, đoàn thể buộc phải giải thể. Tỉnh chỉ giữ lại một số bộ đội, tập trung dồn về “ruột” Đồng Tháp Mười của tỉnh. Ban Chấp hành phụ nữ xã Mỹ Ngãi cũng giải thể, tôi phụ trách phụ nữ xã (không còn Ban Chấp hành như trước).
Dù không còn hệ thống tổ chức từ tỉnh xuống xã, tên không còn nhưng người vẫn còn. Tôi vẫn tiếp tục hướng dẫn cho hội viên phụ nữ của xã học tập, củng cố tổ chức. Những hội viên phụ nữ sau này đã trở thành nòng cốt cho phong trào phụ nữ ở địa phương. Để phù hợp với tình hình lúc bấy giờ, chúng tôi hướng dẫn cho các chị em thành lập những tổ chức biến tướng, hợp pháp và bán hợp pháp với nhiều tên gọi. Ở xã Mỹ Ngãi thành lập ba loại tổ phụ nữ: Tổ thăm đau, nuôi đẻ; tổ vạn cấy (cấy vần công) và tổ nữ công gia chánh (tỉnh Sa Đéc địch tổ chức Hội Phụ nữ Việt Nam). Các tổ chức biến tướng vừa giúp nhau chăm lo cuộc sống, vừa củng cố niềm tin của dân đối với Đảng và Bác Hồ. Khi cần thì hướng dẫn quần chúng đấu tranh chống địch. Những người chưa bị lộ thì ra hoạt động hợp pháp như trường hợp các chị Năm Mai, Bảy Sương đưa đi học cô đỡ tại bệnh viện Cao Lãnh để địch cấp chứng chỉ cho hành nghề sau khi tốt nghiệp, tạo vỏ bọc chắc chắn để hoạt động sau này. Ngoài ba tổ chức phụ nữ trên, cán bộ đảng viên thực hiện nắm quần chúng với phương châm bắt rễ, sâu chuỗi. Cứ một đảng viên nắm ba quần chúng cảm tình, một quần chúng cảm tình nắm ba quần chúng tốt. Như vậy, một đảng viên có thể nắm được chín quần chúng tốt, hạn chế đến mức cao nhứt hoạt động bị lộ.
Lúc nầy Tỉnh ủy Sa Đéc thành lập Ban Phụ vận Tỉnh, phân công đồng chí Võ Thị Việt - trưởng ban, phụ trách huyện Châu Thành, đồng chí Nguyễn Thị Liên, phụ trách Sa Đéc và tôi phụ trách Cao Lãnh. Không còn Ban Chấp hành, hoạt động của phụ nữ do Ban Phụ vận nắm, đặt dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy. Năm 1957 tôi về xã Hòa An hoạt động và học may ở tiệm Nhật Tân để tạo thế hợp pháp. Thời kỳ này địch đã bắt đầu khủng bố cách mạng. Nổi bật là vụ giết hại hơn bốn mươi đảng viên và quần chúng ở xã Bình Thành huyện Thanh Bình, giết bỏ bao bố thả trôi sông đồng chí Mai Văn Khải là chi ủy viên xã Mỹ Ngãi, thành phố Cao Lãnh hiện nay. Người dân hoang mang, lo sợ. Chúng tôi vận động nhân dân hãy tin vào Đảng, vào cách mạng, vận động bà con làm đơn, cử người đi Tân Châu gặp Ủy hội Quốc tế tố cáo địch đã vi phạm Hiệp định.
          Năm 1959 cơ sở của ta trong đồn địch báo ra, tôi đã bị lộ nên tránh đi để khỏi bị địch bắt. Do vậy tôi phải thoát ly luôn.  Tôi đi vô Tỉnh ủy ở hậu Thường Phước, được Tỉnh ủy cử tham gia lớp học sơ cấp chính trị của Khu ủy mở. Thời gian học một tháng. Lớp học có cái tên rất lạ: ÚT LỌP. Thơ từ ở các nơi gởi cho lớp chỉ cần ghi hai từ ÚT LỌP là thư tới tận nơi. Lớp học tổ chức vào mùa nước, học viên ngồi học ở trên xuồng và có mười học viên. Để đảm bảo bí mật, lớp được chia thành hai tổ, mỗi tổ năm người. Tổ 1 do anh Bảy Hạo - dạy ở Trường Đảng tỉnh làm tổ trưởng. Tổ 2 do anh Tám Hưng là giảng viên, lớp trưởng kiêm tổ trưởng. Hai tổ cách nhau bằng một tấm vải che đảm bảo bí mật cho mọi người, không ai biết ai, bởi anh chị em toàn dân hoạt động hợp pháp. Giáo viên giảng bài ngồi giữa tấm vải che hai tổ. Lớp học rất nghiêm túc, học xong mỗi phần đều có kiểm tra bài. Khi kiểm tra thì anh Tám Hưng lớp trưởng lại lụi hụi nấu cơm cho cả lớp ăn luôn. Một hôm đang học thì nghe súng đạn ầm ầm ở gần đó, sau mới biết là trận đánh Giồng Thị Đam và Gò Quản Cung, khiến tất cả các xuồng bỏ vải che tốc chạy tránh đạn. Thật mắc cười, ai cũng thấy mặt nhau. Anh em sau đó gom lại cười xòa, đùa nhau: “Trời bất dung gian đảng”.
Sau khi kết thúc khóa học, chúng tôi về tỉnh được Tỉnh ủy Kiến phong chủ trương mở các lớp chính trị bồi dưỡng cán bộ Đảng ở cơ sở và cán bộ các đoàn thể. Trường Đảng dạy đảng viên đặt tên là Tư Quyến. Còn trường cho các cán bộ đoàn thể đặt tên Năm Luận. Hai tên: QUYẾN - LUẬN của hai trường nói lái từ HUẤN LUYỆN. Không biết bộ máy điệp báo của địch có khi nào nghe tới sự tồn tại của những cái tên đặc biệt này không, có thể nào đoán ra được đó là trung tâm huấn luyện chính trị nổi tiếng một thời của tỉnh Kiến Phong hay không, mà nhờ nó chúng tôi đã huấn luyện không biết bao nhiêu cán bộ, đảng viên. Đúng là sự “thiên biến vạn hóa” của cách mạng.
          Vào ngày 20/12/1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, các tổ chức đoàn thể bắt đầu được khôi phục lại. Nhưng ở Đồng Tháp (lúc ấy là Kiến Phong), trước đó một năm, từ sau trận đánh Giồng Thị Đam - Gò Quản Cung và sau ngày 25/12/1959 chiếm đồn Vinh Huê, giải phóng xã Thanh Mỹ, huyện Mỹ An, Tỉnh ủy nhận định sớm được tình hình do vùng giải phóng được mở rộng, chủ trương cho khôi phục lại các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, nông dân đã giải tán, cử ba người: tôi, anh Năm Thảnh và anh Mười Ái ngồi viết điều lệ cho các tổ chức đoàn thể chuẩn bị hoạt động trở lại (tổ chức lâm thời).
          Cuộc chiến đấu của những người ở lại vô cùng cam go, ác liệt. Thế nhưng chúng tôi, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã vững vàng vượt qua bao khó khăn, gian khổ. Hai mươi mốt năm các anh xuống tàu ra Bắc, mỗi năm là mười hai tháng, mỗi tháng là ba mươi ngày và mỗi ngày là hai mươi bốn giờ……Không phải từng giờ, mà là từng phút, từng giây, chúng tôi đã phải gồng mình đối phó với bao thủ đoạn hèn hạ của kẻ thù, để mà tồn tại, để tiếp tục hoạt động. Trong cuộc chiến đấu không cân sức này, có nhiều và rất nhiều chiến sĩ cách mạng đã ngã xuống, chưa kịp nhìn thấy lá cờ đỏ tung bay phần phật trong ngày 30/4/1975 bởi cái thời gian hai mươi năm nó dài quá. Nói như vậy mới thấy cái giá của hòa bình thật không nhỏ….
Và những người ở lại, những người B trụ, chúng tôi luôn tự hào và kiêu hãnh đã hiến dâng cả tuổi thanh xuân, vì lý tưởng của cách mạng, để hạnh phúc được nở hoa trên đất nước này./.
24. TẬP KẾT - MÌNH ĐI HAY Ở LẠI?
Võ Hưng Thông
 
1-CUỘC CHỈNH HUẤN DẤU ẤN CẢ ĐỜI!
Khoảng giữa năm 1953, cuộc kháng chiến chống Pháp tới hồi ác liệt. Địch càn quét liên miên. Ta mở chiến dịch tới tấp. Máy bay “heo nái” (loại máy bay mới của Pháp mới xuất hiện) ném bom bầy và bom xăng đặc. Long Châu Sa nhiều điểm nóng giao tranh quyết liệt: Nha Mân, Hòa Tân, An Khánh, Sở Thượng, Đồng Tháp Mười… Mùi khét thuốc súng, mùi cây xanh bị thiêu cháy nồng nặc. Địch bị tiêu hao, tiêu diệt nhiều, bên ta cùng nhân dân chiến đấu thắng lợi đó đây dồn dập nhưng tổn thất cũng không ít. Chiến sĩ và nhân dân càng căm thù địch vì người thân, đồng đội bị giết hại đồng thời rải rác trong đơn vị không ít người hoang mang dao động, có người tâm sự: “đánh la đánh lết, không chết cũng có ngày bị thương…”, “Cuộc kháng chiến trường kỳ bao giờ mới chấm dứt, mới thắng lợi hoàn toàn?”…
Trước tình hình tư tưởng diễn biến phức tạp, Đảng chủ trương chỉnh huấn trong Đảng. Nội dung kiểm điểm theo những lời dạy của Bác Hồ, cốt lõi là lập trường tư tưởng suốt đời hy sinh phấn đấu phục vụ nhân dân… Lớp chỉnh huấn này mới đối với chúng tôi, gồm nhiều thành phần: cơ quan, bộ đội… toàn là cán bộ. Trưởng Tổ cơ yếu Tỉnh đội Long Châu Sa Nguyễn Thành Tài cử tôi đi dự lớp nầy. Lớp học chỉ có một tuần mà kết quả hết sức lớn lao. Tất cả cán bộ đảng viên, ai ai cũng tự soi rọi mình một cách nghiêm túc, nghĩ về Đảng một cách thiêng liêng. Không thể giấu diếm Đảng những sai lầm khuyết điểm, kể cả trong tư tưởng chưa biến thành hành vi vi phạm cũng khai ra với tập thể Đảng. Đồng chí A, cán bộ quân sự vừa tự phê bình vừa khóc, kể lể: “Tôi có ý nghĩ bỏ về xã hoạt động an toàn hơn. Nếu tôi không được dự lớp chỉnh huấn này tôi trở thành người tham sống sợ chết xa rời nhiệm vụ, phản bội nhân dân, trong khi mọi lúc mọi nơi đâu đâu người dân cũng đùm bọc cưu mang nuôi dưỡng bảo vệ mình”. Đồng chí B, cán bộ cơ quan X tự phê có ý định hưởng lạc với cô Y, “thật đáng xấu hổ một đảng viên mà có tư tưởng làm hại người dân, nếu cha mẹ mình, anh chị em mình bị người khác làm hại như vậy mình có chịu không, nguyên dân do tư tưởng chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, bóc lột người khác của địa chủ phong kiến, của nông dân an phận học đòi hưởng lạc…”. Phần tôi cũng tự phê nghiêm túc và hứa sẽ tiếp tục rèn luyện lập trường tư tưởng của giai cấp công nhân, nguyện hy sinh suốt đời vì dân, vì độc lập dân tộc, chiến đấu đến giọt máu cuối cùng với bọn xâm lược và tay sai, góp phần giải phóng quê hương đất nước… Người nào tự phê cũng được tập thể đóng góp chân tình, thẳng thắng, phân tích ưu khuyết điểm tới nơi tới chốn…
Không ngờ cuộc chỉnh huấn này là hành trang tư tưởng của tất cả chúng tôi, có sức đề kháng cao với mọi gian nguy nghịch cảnh, có sức gánh nặng trọng trách, vươn tới đỉnh cao tình thương nhân dân, tình yêu tập thể trong cuộc đọ sức thần kỳ dài lâu với kẻ thù mới, thâm độc nguy hiểm hơn nhiều.
2- ĐI LÀ TRANH ĐẤU, Ở LẠI CŨNG ĐẤU TRANH
Ngày 20 tháng 7 năm 1954. Mấy cái radio hiếm hoi bị hàng chục hàng trăm người bao quanh nghe tin loan báo về hiệp định Geneve. Không khí sôi động reo hò báo tin nhau quang quác: “Đình chiến rồi! Đình chiến rồi! Việt Nam được công nhận độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ”. Nhưng trước mắt đất nước phải tạm chia làm hai miền. Miền Nam còn thuộc quyền quản lý của Pháp. Quân đội mỗi bên tập kết về vùng của mình quản lý. Sau hai năm sẽ tổ chức tổng tuyển cử trong toàn quốc để thực hiện thống nhất nước nhà.
Sau ba ngày thì nội dung văn bản được phổ biến và sau đó mấy tuần thì tất cả đều được học tập “Tình thế mới, nhiệm vụ mới”. Bao năm lăn lộn với chiến trường, tất bật công tác phục vụ chiến đấu, bây giờ đình chiến rồi, không khí yên tĩnh lạ thường, khác với bom rơi đạn nổ cháy nhà, ai ai cũng mừng vui khôn xiết vì biết rằng thắng lợi nầy to lớn quá. Thằng Tây thiện chiến mà thua Việt Nam “tầm vông vạt nhọn”. Biết bao chiến sĩ đồng bào phải hy sinh tánh mạng, tiền của, trong đó có sự đóng góp của một phần công sức trí tuệ, thậm chí một phần xương máu của mình mới có ngày hôm nay. Niềm vui rộn rã có khi thái quá, chợt hiểu ra trước mắt nhiệm vụ mới đang chờ đón mình. Chúng ta phải thi hành hiệp định, tập kết để phá vỡ âm mưu hiếu chiến duy trì ý đồ xâm lược của đế quốc. Vậy là ta phải tập kết, ngoài điểm Hàm Tân, Xuyên Lộc và Cà Mau, có điểm tập kết ở Cao Lãnh. Chúng tôi đóng quân nhà dân ở xã Mỹ Trà mà nghĩ tới cái ngày tập kết ra Bắc. “ Hay lắm, ta sẽ đến thủ đô Hà Nội miền Bắc xã hội chủ nghĩa, có thể được gặp Bác Hồ, có cơ hội học tập tiến bộ để cống hiến nhiều hơn cho Đảng cho nhân dân! Ủa mà phải có người ở lại để tiếp tục cuộc đấu tranh đòi thống nhất nước nhà. Trong hai năm biết bao biến đổi với kẻ thù nham hiểm sắp mất miếng mồi Việt Nam béo bở. Chúng có chịu khoanh tay ngoan ngoãn thi hành hiệp định Genève không?”. Chúng tôi thảo luận “Đi là tranh đấu, ở lại để đấu tranh”.  “Đi là vinh quang, ở lại là anh dũng!”. Vấn đề đặt ra cho đơn vị cơ yếu chúng tôi là ai đi, ai ở lại nhằm đảm bảo thông suốt sự lãnh đạo của Đảng thông qua mật mã - điện đài.
Hầu hết chúng tôi ai cũng chuẩn bị tư thế tập kết ra Bắc. Mua sắm may quân phục mới, nón nan mới, đóng dép râu mới v.v… Đùng một cái, đồng chí Nguyễn Thành Tài, trưởng tổ cơ yếu, trao cho tôi một bao thư với lời động viên: “Chúc mừng! Lãnh đạo bàn bạc kỹ lắm mới chọn được các đồng chí ở lại!”. Thế là sáu trong số vài chục cán bộ Cơ yếu được quyết định của Đảng Uỷ văn phòng Tỉnh đội Long Châu Sa phân công ở lại miền Nam tiếp tục nhiệm vụ cũ trong tình thế mới, trong đó có tôi. Một thoáng xua tan mơ ước hy vọng, tôi liền nhận thấy niềm sung sướng, tự hào đang trào dâng trong tôi vì là một đảng viên trẻ, hai mươi tuổi thanh xuân vừa được chỉnh huấn, được Đảng tin cậy giao trọng trách trong tình thế mới, tôi tự tin bản thân sẽ hòa mình trong dân cư vì đó là dân mình và hình dung “cá chậu chim lồng” “nằm gai nếm mật” trong vùng kiểm soát của quân thù!
Đồng chí Tài dặn dò về năm bước công tác cách mạng và phong cách BÍ MẬT. Đồng chí Mai Ngọc Bửu  (tức Mai Văn Hai) trao đổi về cách đào hầm bí mật cá trê (Hầm cá trê, phải lặn xuống nước chun vô hang nổi lên thở trong hầm) càng làm cho tôi yên tâm, vững bụng.
Để phù hợp đơn vị hành chính của ngụy lúc bấy giờ, tỉnh Long Châu Sa được tách ra thành ba tỉnh: Long Xuyên, Châu Đốc, Sa Đéc. Tôi và Sơn Vương được phân công về Văn phòng Tỉnh uỷ Châu Đốc làm công tác Cơ yếu.
Chúng tôi âm thầm chia tay với đồng đội, tạm thời cắt liên lạc với gia đình, bí mật chuẩn bị nón lá, áo bà ba và mọi vật dụng cần thiết cho môi trường mới. Một hôm gần đó hai chúng tôi cùng với anh Hai Khoái (người được phân công phụ trách căn cứ Tỉnh uỷ) xuống xuồng ban đêm vượt qua nhiều con rạch, kinh, bưng… qua Xẻo Quýt, Gáo Giồng hướng về xã Tân Hộ Cơ huyện Hồng Ngự (Tân Hồng ngày nay) đến Gò Sa Rài đấy là căn cứ đầu tiên của Tỉnh uỷ Châu Đốc. Cuộc xây dựng nhân tâm, “Căn cứ địa lòng dân” bắt đầu!
3- HOÀ NHẬP DÂN CƯ NÒNG CỐT PHONG TRÀO:
Anh Ba Tê cán bộ căn cứ dẫn tôi đến nhà ông Ba ở Gò Gai. Đã bàn trước nên gặp chúng tôi là ông Ba mừng rỡ. Ông Ba bàn với chúng tôi là xưng hô gọi ông bằng dượng Mười. Bà con bên vợ ít tới lui nên trong gia đình và xóm giềng không biết tông tích. Mấy cô trong nhà gọi ông Ba bằng cậu Ba, gọi tôi bằng anh Chín như anh em bà con thân tộc.
Kế đó là nhà chú thím Bảy, lớn hơn tôi chừng 10 tuổi nên tôi gọi bằng chú lớn. Lí do công khai tôi xuất hiện nơi Gò Gai này là “Thầy giáo cấp I đến đây dạy học”. Tôi gồng gân làm thầy giáo để che mắt địch chứ có biết nghề nầy đâu.
Khoảng mấy ngày sau thì phụ huynh lần lượt đến đăng ký để cho con em họ học. Lớp học chừng vài chục em mà học tới bốn lớp: từ lớp một đến lớp bốn. Trong gia đình tôi trực tiếp dạy Thím Bảy từ chỗ không biết chữ nào. Mấy tháng đã biết đọc, biết viết vài câu. Còn bên gia đình Dượng Mười tôi dạy cho cô em Bé Sáu nhỏ nhất 10 tuổi chưa biết chữ nào, thời gian sau lên lớp hai, lớp ba… Các em trong lớp cũng tiến bộ nhanh như vậy. Ngoài dạy học tôi còn truyền bá cho các em những bài ca kháng chiến, các điệu múa tập thể.
Trong sáu tháng tiếng đồn “thầy giáo Chín” đã lan rộng khắp các Gò ở Sa Rài. Đồn Bình Phú cách đây khoảng 5-7 cây số bọn ngụy cũng biết tin và bắt đầu để ý tìm hiểu.
Ai trong Gò nầy cũng thấy thầy Chín hàng ngày dạy học, gắn bó với các em học sinh. Không mấy chốc tình cảm đã ăn sâu vào dân cư nơi Sa Rài này. Đâu có ai biết hằng đêm anh Tư Thảo và Tư Đen điện đài đựng ăng-ten lên cao mười mấy thước để liên lạc với Liên Tỉnh uỷ và Xứ uỷ (Trung ương cục Miền Nam), Trung ương “dài” ở Hà Nội. Còn tôi với Sơn Vương thì miệt mài mà dịch những công điện đi đến từ hàng trăm hàng ngàn cây số, trực tiếp phục vụ cho thường trực Tỉnh uỷ Châu Đốc, do đồng chí Phạm Ngọc Bích (Bảy Ruộng) làm bí thư, đồng chí Nguyễn Văn Náo (Tư An) làm Phó Bí thư.
Có lần bọn ngụy tuần tra ban đêm dọc theo đường mòn, may là nó không ghé nhà nào. Chúng tôi một phen báo động đối phó rất bí mật khẩn trương, chôn giấu an toàn.
Anh Ba Tê cùng chúng tôi bàn biện pháp đối phó đảm bảo an toàn hơn, không để bọn chúng phát hiện có điện đài ở vùng nầy. Lúc đó có tin bọn thổ phỉ giáo phái hoạt động cướp giựt các nơi. Ta phát động quần chúng tự bảo vệ mình. Ai thấy bọn thổ phỉ hoặc cả bọn ngụy cũng giả bộ lầm là bọn thổ phỉ. Hễ chúng xuất hiện tuần tra ban đêm là đánh mỏ tre, đập thùng thiếc, nồi niu xoong chảo rùm beng, miệng hô to “ăn cướp, ăn cướp…” để báo tin cho nhau và áp đảo tinh thần bọn ngụy không dám tuần tra ban đêm nữa. Mỗi lần đánh trống mỏ vang dậy cả vùng, ai nghe cũng rợn da gà! Phong trào nầy kéo dài cả năm trời. Kết quả hết sức tốt đẹp, không bị phát hiện gì cả.
Chúng rút kinh nghiệm sau này nhiều lần tổ chức tuần tra ban ngày, tới nhà nào cũng hỏi: Thầy giáo Chín ở đâu tới, bà con với ai? Ai cũng nói là thầy Chín bà con bên vợ của ông Ba đến đây dạy học cho con em mình.
Bà con, nhất là các cô gái (có người cũng mang máng nhận ra thầy Chín là cán bộ cách mạng) nên góp phần tìm cách bảo vệ, thấy bọn ngụy kéo quân vô các cô làm bộ ra vẻ mừng rỡ quan lính từ đồn Bình Phú vô thăm dân, chào hỏi huyên thuyên vui vẻ làm cho bọn ngụy chi phối tình cảm, nhẹ đi việc điều tra phát hiện Việt Cộng. Chúng không biết gì thêm nữa, lần nào cũng đành rút quân về đồn.
Thế là Tổ Cơ yếu - điện đài của Tỉnh uỷ Châu Đốc đương nhiên tồn tại trong vùng kiểm soát của quân thù.
Một hôm chúng tôi được lệnh di chuyển dời chổ ở. Quá bất ngờ, phải chia tay với ông Ba, chú thím Bảy xong, tôi vội viết vài câu từ giã cô Kẽm, cô Lài, cô Cúc đang đi học bổ túc văn hóa, kèm theo hai câu thơ:
“Chiều chiều chim vịt kêu chiều
Ra đi còn nhớ những điều nghĩa ơn!”
Các cô về tới nơi đọc thơ khóc ré lên và đuổi theo đường mòn mong gặp lại tôi còn đi trên đường. Chị Được bà con bên Long Khánh qua chơi cũng khóc theo. Mấy ngày sau được tin này, tôi cũng không sao nén được xúc động!
4- CĂN CỨ ĐỊA LÒNG DÂN Ở KHẮP NƠI
Sau 100 ngày tập kết 30/10/1954, khi chiếc tàu cuối cùng rời bến thì tin tức dồn dập về Mỹ-Thiệu chống phá Hiệp định Genève, đánh phá cơ sở cách mạng, tàn sát trả thù cán bộ và quần chúng của ta.
Hàng ngàn ngụy quân và lực lượng giáo phái tràn vào đóng quân Đồng Tháp Mười nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng. Cao Đài và Hòa Hảo phản động cũng hùa theo tuyên bố không đội trời chung với Cộng Sản. Mỹ ngụy ra lệnh bắt được cán bộ hồi cư thì chặt đầu, mổ bụng, moi gan, bắt được phụ nữ thì hãm hiếp…
Tin tức Mỹ - Diện phá hoại Hiệp định Genève và trả thù cán bộ quần chúng cách mạng không sao kể hết. Cơ yếu điện đài chuyển về Trung ương thì một vài ngày sau đài Hà Nội đưa tin tố cáo bọn chúng, nhân dân theo dõi đài phát thanh càng tin tưởng cách mạng vì biết rằng bộ máy cách mạng vẫn còn ở lại hoạt động khắp Miền Nam.
Khoảng giữa năm 1957, Tỉnh uỷ Châu Đốc và Long Xuyên bàn nhau thành lập Tỉnh uỷ An Giang. Văn phòng Tỉnh uỷ khi thì dời về Thường Thới Tiền huyện Hồng Ngự để dựa vào thế nông thôn, ở trong nhà dân phân tán mỏng kéo dài hằng năm ba cây số. Khi thì vượt sông Tiền ở tại xã Long Sơn cách thị trấn Tân Châu chỉ một cây số. Khi thì vọt qua Cù Lao Nhỏ (xã Long Khánh) thuộc huyện Hồng Ngự.
Lúc này tôi mới biết Chánh Văn phòng là đồng chí Nguyễn Thanh Liêm, Phó Văn phòng là đồng chí Tám Tráng (Tám Nhỏ) và đồng chí Đỗ Văn An (nguyên Bí thư huyện uỷ Tân Châu mới điều về). Cán bộ nhân viên liên lạc với nhau thông qua một đồng chí giao liên, gọi là liên lạc “đơn tuyến”, không ai gặp ai. Bây giờ cơ yếu chỉ còn một mình tôi vì đồng chí Sơn Vương bị bệnh phải điều lắng dưỡng bệnh nơi khác và đã qua đời.
Đâu đâu bọn giặc cũng tỏ ra hung hăng, truy lùng cơ sở cách mạng, bình định nông thôn, quyết tâm diệt cộng. Cán bộ văn phòng phải thâm nhập vào dân, ghi tên vô sổ “Ngũ gia liên bảo”. Mỗi nơi tôi có một tên thứ khác nhau (anh Tư Mập, anh Gia, anh Chín…).  Điện đài có lúc phải dẹp, chôn giấu. Cơ yếu chuyển qua viết bạch chỉ (loại mực không lộ, phải có thuốc bôi lên lộ chữ mới đọc được) .
Lúc ở cây số Một Long Sơn, tôi đang viết bạch chỉ trong buồng nhà dân, bỗng ánh sáng khe vách nhà lá bị tối sầm, té ra bọn lính đang đứng sát vách nhà bên ngoài, báng súng của nó cách tôi chừng một hai tấc, nhờ vách nhà mà nó không phát hiện được. Tôi nghĩ chắc mình bị lộ rồi, chúng đang bao vây? Tôi vội vàng nhẹ nhàng dồn tài liệu xuống hầm rồi bước ra giả bộ lau quét nhà cửa. Cháu Hai Sả (con chủ nhà) chừng 12 tuổi có lẽ biết tâm lý tôi đang lo lắng nên chạy tới đùa giỡn với tôi, xua tan không khí im lặng. Ba mẹ cháu về tới rút kinh nghiệm nói với tôi là sau này có đi đâu cũng ở nhà một người với cháu Gia thì tốt hơn (trong tờ khai gia đình tôi tên là Lê Văn Gia cháu vợ của chủ nhà). Nghe qua tôi cảm thấy bà con cũng hy sinh việc làm ăn nhằm chăm lo bảo vệ cán bộ, tôi vô cùng cảm động và kính mến.
Sống cảnh “cá chậu chim lồng” do địch kiểm soát không biết ngày nào mình sẽ bị phát hiện, nhưng cách mạng giỏi thật, mấy thằng Trưởng ấp hoặc Trưởng ngũ gia liên bảo nếu không phải cơ sở của mình thì cách mạng cũng vận động cảm hóa nắm hết. Coi dữ dằn tuần tra súng ống vậy mà cũng êm, không chuyện gì xảy ra. Đúng là “căn cứ địa lòng dân”. Cán bộ ta đến đâu cũng hòa mình trong quần chúng, sinh hoạt như ruột thịt trong nhà, xem công tác dân vận là nhiệm vụ sống còn của tổ chức cách mạng và bản thân mình.
Khoảng tháng 10/1959, luật 10/59 của địch đã triển khai thực hiện điều khắp, trắng trợn phá hoại Hiệp định Genève, bắt bớ, bắn giết, tù đày cán bộ đảng viên. Kể ra việc làm của nó là tiến tới “diệt cộng” cũng có phần kết quả: gom dân, lập ấp, dựng tề. Cơ sở của ta bị đánh rát, không khí nghẹt thở, tình hình rất căng thẳng, lai rai cũng có cán bộ đảng viên “chiêu hồi”, “đầu thú”. Tuyệt đại bộ phận nhân dân nhất là nông dân do trước đó cách mạng thực hiện chính sách ruộng đất, chia ruộng cho dân cày đó là “lá bùa hộ mạng” cho cách mạng, cho cán bộ ta. Hầu hết nông dân đều trung thành, hướng về Đảng, tin tưởng cách mạng, tin tưởng Bác Hồ. Nhưng phải nói lúc này hầu như các cơ sở của ta đều tạm nằm im. Văn phòng Tỉnh uỷ lúc này đã chuyển qua xã Bình Phước Xuân Cù lao Giêng (chợ Mới) cũng thấy không ổn. Tỉnh uỷ chủ trương phân tán văn phòng, mỗi người đi một nơi do cán bộ lãnh đạo trực tiếp bố trí và liên lạc đơn tuyến. Tôi được bố trí về Sài Gòn điều lắng chờ điều động về Ban Cơ yếu Trung ương Cục Miền Nam. Cuối cùng có sự thay đổi, tôi được lệnh rút trở lại văn phòng Tỉnh uỷ vào cuối năm 1959. Đồng chí Ba Lũy (Ba Hà), Bí thư thị xã uỷ Long Xuyên đón tôi tại phà Vàm Cống đưa về căn cứ Núi Tô. 
Sau này tôi mới biết khoảng tháng 11/1959 đồng chí Tám Tráng (Tám Nhỏ) lúc đó là Chánh Văn phòng Tỉnh uỷ, được bố trí ở nhà ông Bụ ở cây số 2 Long Sơn (gần chỗ tôi ở trước đó chừng 1000m ) bị địch phát hiện, giữa đêm khuya đến bao vây nhà xom trúng hầm bí mật. Đồng chí Tám Tráng chủ động bất ngờ tung nắp hầm nhảy phóc lên tống vào mặt vào bụng bọn chúng, chạy thoát ra sau vườn trốn mất. Chúng bắt ông Bụ chủ nhà đánh dập tàn nhẫn ông không khai gì hết, chỉ nói là ông Tám Tráng (gọi tên trong sổ gia đình) là bà con đến ở đậu đi buôn, không biết hầm hố gì hết. Cuối cùng chúng phải thả ông Bụ.
5-CÓ MỘT THỜI NGÀNH CƠ YẾU LÀ TRÁI TIM CỦA ĐẢNG
Về căn cứ núi Tô (đồi Tức Dụp) tôi ngạc nhiên về sự trù phú ở đây và thông cảm người dân bị địch lùa xuống chân đồi lập ấp chiến lược, để lại đây một nền kinh tế không chủ. Các loại cây trái chín rụng đỏ nào là đu đủ, mận, mãng cầu ta, mãng cầu xiêm, bầu bí mướp khổ qua… Dưới đất cỏ mọc um tùm đào nơi nào cũng có các loại khoai củ… Ngạc nhiên vì đồi núi đá chồng lên đá, lò ãng (hang đá) lỗ chỗ khắp nơi vậy mà chỗ nào có đất là bà con trồng tỉa cây trái tốt tươi trĩu cành hoa quả… Tỉnh uỷ chọn nơi đây làm căn cứ địa đứng chân vững chắc, an toàn mà còn có lương thực, thực phẩm “thiên nhiên” cung cấp cho anh chị em chúng tôi. Dưới chân đồi bà con Việt Nam-Khme hầu hết hướng về cách mạng. Cán bộ căn cứ của Tỉnh uỷ xuống đây liên hệ vận động quần chúng thì bà con ủng hộ không thiếu thứ gì: gà vịt, gạo nếp,… đặc biệt vài ngày thì có một con cầy làm sẵn đưa lên núi… Đồng chí Tám Tráng còn chủ trương xây dựng nề nếp sinh hoạt văn phòng như xã hội xã hội chủ nghĩa: “Mình vì mọi người…” Ai có tin vui buồn gì đều báo cáo tập thể, có viên kẹo miếng đường cũng sớt chia, hưởng chung… Chúng tôi cảm thấy ấm áp và thú vị trong đời làm cách mạng…
Không khí chuẩn bị hưởng ứng Đồng Khởi ở Bến Tre sôi sục hưng phấn. Điện đài và Cơ yếu làm việc ngày đêm không mệt mỏi. Đồng chí Nguyễn Văn Náo (Tư An)  lúc này làm Bí thư Tỉnh uỷ sát cánh cùng anh em. Văn phòng mới tập hợp lại rất gọn nhẹ chỉ 5 người: Đồng chí Tám Tráng (Tám Nhỏ) chánh văn phòng, tôi là chín Thông làm Cơ yếu, đồng chí Mười Nguyên (Mười Liên) thư ký đánh máy (sau giải phóng 1975 đồng chí làm Bí thư Thị xã uỷ Long Xuyên)  và hai đồng chí điện đài. Sau một năm rút được đồng chí Chín Phát về bổ sung tổ Cơ yếu và hai cán bộ nghiên cứu. Mỗi đồng chí chọn một lò ảng làm văn phòng cho mình. Đi lại với nhau phải chun qua nhiều lò ảng, nhảy qua nhiều tảng đá, có chỗ phải vịn vách đá lần qua bên kia rất nguy hiểm cho nên chúng tôi đặt tên chỗ nầy là “mỏm quỷ sầu”.
Từ chỗ hiểm trở đó và vị trí quan trọng về quân sự của núi Tô ở Nam bộ cho nên sau nầy (1968) Mỹ-ngụy sống chết giành lấy cho được đồi Tức Dụp. Từ đây xuất hiện 128 ngày đêm tiêu diệt 2.000 quân địch, đây là cuộc chiến đấu anh hùng gian khổ ác liệt nhất của quân dân An Giang trong suốt quá trình đánh Mỹ và thắng Mỹ.
Chúng tôi may mắn được làm công tác Cơ yếu. Tình hình ta địch, chủ trương tuyệt mật đều biết gần hết, kịp thời hơn các đồng chí khác, kể cả tin tức ở các Tỉnh thành bạn.
Năm 1956, nhân chuyến đi công tác từ miền Tây ngang qua nhà đồng chí chánh văn phòng Tỉnh uỷ Châu Đốc đang ở Bảy Thưa xã An Bình, huyện Hồng Ngự là đồng chí Nguyễn Thanh Liêm chồng chị Hai Oanh (chị Vũ Oanh sau nầy làm Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc tỉnh Đồng Tháp), đồng chí Lê Duẩn có chuyển điện thông qua cơ yếu chúng tôi mã dịch đề cương “Đường lối cách mạng Việt Nam ở Miền Nam” gởi về Trung ương ở Hà Nội.
Trong năm 1957 ở Kiến Phong và một số tỉnh đã có hoạt động vũ trang diệt địch, hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng. Nơi nào kết hợp tốt quân sự-chính trị với binh vận thì nơi đó có phong trào quần chúng mạnh. Tuy nhiên, Xứ uỷ uốn nắn nên các tỉnh thận trọng lãnh đạo kết hợp vũ trang, chỉ tự vệ là chính, không được chủ động nổ súng trước. Trong nội bộ và quần chúng sôi sục căm thù địch tàn bạo giết hại cán bộ và nhân dân, nhưng phải phục tùng và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. Nhưng đến đầu năm 1958 Xứ uỷ vẫn còn chỉ đạo giữ vững đường lối đấu tranh chính trị bằng phương pháp hòa bình.
Giữa năm 1959 có Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng cho phép sử dụng lực lượng vũ trang đấu tranh bằng quân sự hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị và binh vận. Nội bộ như mở cờ trong bụng. Lâu nay dồn nén trong lòng nay được cởi mở vô cùng hả dạ. Cũng là lúc các tỉnh củng cố phát triển lực lượng sẵn sàng ra quân giáng cho địch những đòn trí mạng. Mở màn là trận Giồng Thị Đam-Gò Quản Cung ở Kiến Phong vào tháng 9 năm 1959 diệt gọn 2 đại đội địch. Bắt sống 105 tên, thu hằng trăm súng. Trận nầy có tiếng vang toàn Miền, hỗ trợ phong trào Đồng Khởi của Bến Tre và các tỉnh. Ở An Giang cũng mở nhiều đợt tấn công nổi dậy, trước hết giải phóng ba xã quanh núi Tô…
Chiến trận diễn ra dưới chân núi, nơi mà trên đồi chúng tôi liên tục ngày đêm mã dịch trình điện cho đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ. Không khí Đồng Khởi nung nấu tình yêu thương giữa chúng tôi với lãnh đạo tỉnh, đương nhiên Cơ yếu trở thành con cưng của Tỉnh uỷ, xem như “trái tim” của Đảng, còn điện đài là “mạch máu” nối liền các nơi để máu chảy về tim. Trong tình thế đồn bót địch tứ giăng dày đặc, chiến trường bị chia cắt thì mạch máu Cơ yếu-điện đài hết sức quan trọng cho lãnh chỉ đạo của Đảng.
Để phục vụ cách mạng chuyển sang giai đoạn mới, ngành Cơ yếu-điện đài cần phát triển lớn mạnh. Ban Cơ yếu khu uỷ Khu 8 điều tôi về Khu và sau đó bổ nhiệm làm Phó Ban Cơ yếu Khu uỷ Trung Nam Bộ. Đồng chí Nguyễn Kim Quang (Chín Phát) tạm thời gách vác nhiệm vụ Cơ yếu An Giang, rồi cũng được điều động về khu bổ sung vào Ban lãnh đạo cùng đồng chí Nguyễn Kha, trưởng Ban cơ yếu Khu uỷ chung sức lãnh đạo ngành cơ yếu phục vụ Tổng tấn công và nổi dậy đến thắng lợi hoàn toàn./. ­
25. SAU NGÀY ĐÌNH CHIẾN Ở CAO LÃNH
Nguyễn Đắc Hiền
         
Tháng 3 năm 1954, tôi đang học ở Cao Lãnh thì ông anh thứ ba là Nguyễn Đắc Tường công tác ở Phòng Chánh trị Tỉnh đội Long Châu Sa kêu tôi vô vùng giải phóng ở, vì sợ bị địch bắt đi lính. Lúc đó tôi mới 16 tuổi. Vô ở nhà anh Hai Vinh ở kinh Nguyễn Văn Tiếp A, tôi phụ anh phóng tranh áp phích, kẻ khẩu hiệu… vì anh đang công tác thông tin ở xã Phong Mỹ.
Đình chiến theo Hiệp định Genève, tôi trở về quê Tân Thuận Tây. Lúc nầy vùng Cao Lãnh thuộc quyền quản lý của ta, nơi tập trung bộ đội các nơi về chuẩn bị xuống tàu tập kết ra Bắc. Nhà tôi có các anh bộ đội thuộc đơn vị địa phương quân huyện Lai Vung trú đóng. Hằng ngày, tôi thường cùng các anh đi hái rau dền, rau dệu mọc hoang trong vườn hay đi xin đọt rau lang của bà con trồng, về lo bữa ăn.
Nhà tôi lúc đó nghèo lắm. Má, chị Chín, tôi và em tôi là Nguyễn Đắc Lộc có những ngày không có cơm ăn vì hết gạo. Thường bữa chỉ mua một gói nhỏ tóp mỡ heo về xào với đu đủ sống hoặc vài con ba khía trộn giấm. Vì vậy, khi ăn cơm, cả nhà tôi đều ở trong bếp không để anh em bộ đội thấy, không để các anh biết nhà tôi ăn cơm với gì. Anh Ba tôi thỉnh thoảng mang về nhà năm ba lít gạo anh xin được ở đâu đó.
Anh được đi tập kết ra Bắc. Nhà nghèo quá, má tôi chỉ mua được cho anh vài chục bánh tráng trắng mang theo xuống tàu nhúng nước ăn và một chai dầu Nhị thiên đường, phòng khi đau bụng, nhức đầu. Ngày anh xuống tàu ở bến Bắc Cao Lãnh, nhà tôi không ai đi đưa tiễn anh được.
Những ngày nầy má tôi cứ mỗi tối ngồi xếp bằng trên chõng, tay lần chuỗi, niệm Phật, vái van Trời Phật, ông bà phù hộ cho anh tôi đi được bình yên. Anh đi rồi, gia đình tôi còn người anh thứ Tám là Nguyễn Đắc Nam, bộ đội, sẽ xuống tàu đi ra Bắc ở Cà Mau. Anh không về thăm quê được trước khi ra Bắc. Hai năm trước (1952) anh có hứa hôn với chị Nguyễn Thị Kim Quít, con gái út ông bà Mười Trị ở xã Mỹ Ngãi. Chị Kim Quít cùng người chị thứ ba - chị Ba Mận - tới nhà gặp má tôi bàn chuyện đi xuống Cà Mau tìm thăm anh Đắc Nam. Má tôi rất muốn được thăm con nhưng sức khoẻ kém, không đi được, nên bảo chị tôi là Nguyễn Thị Nhiên cùng đi với hai chị xuống Cà Mau. Chị Chín Nhiên rất ngại vì đi thăm mà chẳng có gì tặng cho anh và trong người cũng không có tiền, nên không muốn đi. Má tôi động viên mãi chị mới chịu đi. Ba người (chị Ba Mận, chị Kim Quít và Chín Nhiên) đi qua Long Xuyên rồi tìm đường xuống Cà Mau. Chị Ba mua mang theo tặng Đắc Nam một cái mùng và tấm đắp. Lúc đi xe, khi đi ghe… mất mấy ngày, cuối cùng các chị cũng tìm đến nơi bộ đội đóng quân. Đã 21 giờ, các chị cứ lần theo mùng bộ đội ngủ mà kêu: “Có Đắc Nam ở đây không?”. Gặp nhau chỉ được ba ngày. Đơn vị anh hành quân đi. Ba chị chia tay với anh, ra về.
Phần tôi, được anh Năm Ngôi cán bộ xã Tân Thuận Tây giao cho nhiệm vụ kẻ khẩu hiệu treo, dán ở Chợ Cũ vừa cất và nhóm lại. Chợ nầy năm 1951 Hoà Hảo đóng đồn tại đây đuổi dân đi, dẹp chợ. Nay cách mạng trở về tái lập lại Chợ Cũ. Anh đưa tôi 2,5 đồng để mua hai hộp màu xanh đỏ nhuộm quần áo, dùng pha nước kẻ khẩu hiệu. Dư 5 cắc, tôi xin anh để mua gói muối hột cho gia đình vì hết muối ăn.
Mỗi ngày, sau bữa cơm sáng, tôi lại chùa Ông Quan Đế ngồi kẻ vẽ. Anh Tư Ý và các anh Thông tin xã dùng ván đóng mấy tấm bảng rộng cỡ 6 tấc, dài cỡ 3 thước, hai mặt sơn bằng sơn tây màu trắng, dùng sơn màu đỏ và xanh viết lên các đoạn trích trong Hiệp định Genève, dùng hai cây cọc treo cao ngang qua đường đi, để người qua lại đọc được. Riêng tấm bảng treo dưới đường xuống cầu chợ, trích điều 14 mục C đoạn nói về cấm trả thù những người kháng chiến cũ. Các anh còn đóng hai tấm bảng bằng ván, cỡ hai thước vuông, trích các điều trong Hiệp định Genève, tôi kẻ lên bằng sơn tây, treo lên hai bên mặt tiền nhà lồng chợ. Ở giữa, các anh đóng một tấm bảng bằng ván ngang cỡ sáu tấc, dài một thước để tôi vẽ chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh treo lên đó.
Tôi xuống Cao Lãnh tìm xin được tấm hình chụp chân dung Bác Hồ nhỏ cỡ đầu ngón tay cái, người ta làm thành tấm huy hiệu tròn đeo bên ngực. Ảnh nhỏ quá, khó nhìn chi tiết để vẽ lớn lên trên tấm bảng gỗ. Tôi phải tìm một bóng đèn tròn đã hư, chùi sạch, đổ nước trong vào, thay tấm kính lúp, để trước ảnh Bác Hồ cho thấy to hơn, nhìn kỹ từng chi tiết mắt, mũi, miệng… mà vẽ theo. Suốt mấy ngày trời, tôi nhìn rồi vẽ lần hồi hai mắt, tới mũi, rồi miệng, trán, râu… Cuối cùng tôi cũng hoàn thành việc vẽ bức chân dung Bác. Đem ra khỏi chùa, bà con và các anh lãnh đạo xã xúm lại xem và đều khen là vẽ giống Bác, khá đẹp. Tôi vui mừng lắm trước kỳ công và thành quả của mình. Bức chân dung Bác được các anh bắc thang leo lên treo giữa mặt tiền nhà lồng chợ. Như vậy, đứng giữa sân chợ nhìn lên nhà lồng chợ, phía đầu hồi treo một lá cờ đỏ sao vàng luôn phấp phới trước gió, dưới là chân dung Bác Hồ, hai bên là hai tấm bảng chữ to trích trong Hiệp định Genève; nhìn xuống sông có tấm bảng treo ngang đường xuống cầu chợ; nhìn qua, nhìn lại hai ngã đường tới chợ có hai tấm bảng treo ngang đường đi. Chữ tôi và Sáu Chưởng viết thì ai cũng tấm tắc khen “có hoa tay” nên viết đẹp.
Hôm đoàn Văn công Ngũ Yến tới biểu diễn tại sân Chợ Cũ, các chú, anh trong xóm xúm nhau mượn cây, ván dựng làm khán đài. Tôi được các anh giao vẽ một tấm áp phích trên giấy khổ lớn, giới thiệu vở Trần Hưng Đạo bình Nguyên mà đoàn Văn công Ngũ Yến sẽ diễn. Dù cảnh trí đơn sơ với ánh sáng hai đèn măng sông, nhưng với đội ngũ diễn viên tài danh, già giặn tay nghề như Tám Danh, Ba Du, Kim Nhuỵ, Hoàng Sa v.v… vở diễn hấp dẫn, hằng ngàn người say mê xem cho đến vãng.
Thường các ngày sau bữa cơm chiều ăn sớm, tốp trẻ chúng tôi rủ nhau đi bộ xuống Cao Lãnh chơi (đường đất xa 5 cây số), mặc cho trời tháng nầy hay mưa. Xuống tới thị trấn Cao Lãnh, chúng tôi bị cuốn hút trong dòng người đông đảo ngược xuôi, đi xem triển lãm, xem văn công, xem chiếu phim v.v… Đêm nào cũng quá 21 giờ mới kéo nhau về.
Một lần, chúng tôi được anh Nguyễn Phước Thì dẫn vô lầu Mười Chuyển, lên tới nóc bằng, nhìn qua bốn bên mà coi như chuyện đổi đời, trước đây làm gì có. Tới dinh Quận, dinh Cò Tây, nhà thầy thuốc Lư, những nơi trước đây do bọn Pháp, quận trưởng và chỉ huy đại đội 10 Hoà Hảo đóng, chúng tôi thấy trước cổng đều có chiến sĩ quân đội ta đứng gác. Những ngày đầu, dưới bến dinh Quận còn vài chiếc tàu sắt của Pháp đậu ở đó. Chúng tôi vào nhà thầy thuốc Lư, mọi người xúm chen nhau xem hình một người nằm hiện lên nền xi măng khi được dội nước. Theo lời kể, đây là một người Việt Minh bị Hoà Hảo bắt, họ thiêu sống để tế Thầy, mỡ, tuỷ… của người ấy thấm xuống nền xi măng và không phai theo năm tháng. Vào nhà, một phòng bên trái trước đây là phòng tra tấn, còn lại các vết máu in trên tường và cái rõ rẽ treo giữa phòng, dùng để rút treo người bị tra lên, mà họ gọi là cho “đi máy bay”. Nhìn những vết tích nầy, khiến ai cũng ngậm ngùi, căm uất.
Hôm đi xem đoàn quân nhạc Khu Tám biểu diễn ở sân vận động, tôi mê mẫn, bị cuốn hút khi các anh hoà tấu bài Tiến quân của Lê Trần. Đầu tiên là giọng kèn đồng thúc quân hùng hồn cất lên, tiếp theo là tiếng đờn vi-ô-lông ngọt ngào… hay quá, tôi nghe mà rung động cả người. Bữa đi xem chiếu phim, tôi bị cuốn hút với cuốn phim đen trắng Việt Nam kháng chiến, chủ yếu cảnh chiến đấu của quân dân, xóm làng miền Bắc mà tôi chưa từng thấy. Kế tiếp là bộ phim màu Ác-mê-ni Xô-vi-ê-tíc. Đẹp quá, cảnh thành phố, làng mạc sang trọng, những con người ăn mặc đẹp, vui vẻ lao động, nghỉ ngơi, ca múa… khiến mắt tôi không rời. Có bữa tôi đi xem triển lãm võ khí, thành tựu về y tế, nông nghiệp… Tôi bị chôn chưn trước mấy bức tranh do các cụ nghệ nhân trong xã, làm bằng các vật liệu lá chuối tươi, bẹ chuối, lót tràm, các gốc cây kiểng đã chết v.v… làm thành những bức tranh sanh hoạt như xẻ gỗ, cắt lúa… có chim đậu, chim bay sống động, quá hấp dẫn.
Đi rảo qua các dãy phố chợ, tôi vẫn gặp mặt mấy tên mật thám cũ, ngồi trong phố, mặt lì lì nhìn ra đường. Không rõ họ có cảm xúc gì không trước khung cảnh thắng lợi, hoà bình, phấn khởi của nhân dân ta, hay họ cố nhìn mặt để sau nầy tìm bắt.
Khi bộ đội ta xuống chuyến tàu cuối cùng, giao khu vực Cao Lãnh và Đồng Tháp Mười lại cho Liên hiệp Pháp, trở lại vùng nầy là lực lượng quân đội Hoà Hảo. Họ tràn về các xã xung quanh thị trấn Cao Lãnh, những nơi trước đây Pháp giao cho họ quyền quản lý. Chánh quyền Sài Gòn chỉ có mặt ở cấp quận tại thị trấn Cao Lãnh, chưa kịp thiết lập lại ở các xã nầy. Việc làm trước tiên của chánh quyền Sài Gòn ở Cao Lãnh là cho đục phá Đài Liệt sĩ, hòng xoá dấu vết của cách mạng để lại. Ngay ngày đầu chúng đã vấp phải cuộc đấu tranh trực diện quyết liệt của học sinh Cao Lãnh, buộc chúng không dám phá công khai mà lén lút phá dần vào ban đêm. Chúng tuyên truyền về “thân thế, sự nghiệp” của “chí sĩ” Ngô Đình Diệm được Mỹ nuôi dưỡng từ Mỹ đưa về làm Thủ tướng. Tranh chấp về quyền lực giữa chánh quyền Sài Gòn với quân đội các giáo phái Bình Xuyên, Cao Đài, Hoà Hảo nổ ra. Ở các xã vùng Cao Lãnh, lợi dụng mâu thuẫn giữa chánh quyền Diệm với giáo phái Hoà Hảo, được trên chỉ đạo, từng địa phương cử người ra tiếp xúc với những người cầm đầu lực lượng võ trang Hoà Hảo bàn việc liên kết chống Diệm. Trong thế túng, họ đồng ý đi với ta trên một số mặt. Ở các xã, họ đồng ý để dân ta tự thành lập các đội “chống cướp” trang bị gậy tầm vông, ban đêm từng tốp đi tuần rỏn để kềm chế manh động, trộm cướp của họ. Vốn không ưa Việt Minh, nên Hoà Hảo ở Tân Thuận Tây tháo gở các tấm bảng ta treo lên tuyên truyền về Hiệp định Genève ở Chợ Cũ. Riêng chân dung Bác Hồ do ta lường trước được ý định của họ, nên trong một đêm, được sự chỉ đạo, tôi và anh Sáu Chưởng bắc thang gỡ bức vẽ chân dung Bác xuống, đem giấu trên nóc khánh thờ Ông Quan Đế trong chùa, nên không bị họ huỷ hoại. Họ cấm không cho Chợ Cũ nhóm nữa, cho rằng đây là chợ của Việt Minh. Họ lập một chợ mới ở vàm sông Cao Lãnh, lấy tên chợ Thuận Hoà và dỡ nhà lồng Chợ Cũ đem về đó. Tuy vậy, nhà, tiệm hai dãy phố Chợ Cũ bà con vẫn ở y.
Lúc nầy toàn bộ chi bộ xã, Đoàn Thanh niên Lao động (lúc đó gọi là Thanh niên ba) đều rút vào hoạt động bí mật. Tôi là uỷ viên chi đoàn xã, phụ trách một tổ Đoàn và được phân công mỗi người một khu vực dân cư để tổ chức, nắm dân theo từng hộ gia đình. Mỹ Diệm công khai tuyên bố không ký nên không thi hành Hiệp định Genève. Cứ ít ngày, chúng tôi viết kiến nghị đưa cho dân xem rồi đồng ký tên vào, vô bao thơ, cử người mang xuống dinh Quận Cao Lãnh bỏ vào thùng thơ đặt trước cổng.
Trong năm 1955, trên chỉ đạo mở các đợt đấu tranh chánh trị vào ngày 10/7, ngày 7/8 và mùng 2/9, đòi Mỹ Diệm bình thường quan hệ Bắc Nam, hiệp thương để tiến tới Tổng tuyển cử. Qua phát động, nhân dân hưởng ứng, đúng 12 giờ trưa ngày nầy, tất cả nhà dân, tiệm phố đều đóng cửa, biểu thị sự đoàn kết đấu tranh với Mỹ Diệm. Tôi, anh Sáu Chưởng và Bảy Bé suốt ba ngày, ba đêm thức trắng ở trong buồng nhà bà Châu Thị Tiếu để viết và in bột các loại khẩu hiệu, truyền đơn và cùng một đêm tung ra đem dán, rải nhiều nơi trong xã. Chúng tôi còn bí mật ban đêm đốn cây sua đũa, dựng cổng, treo lên tấm bảng lớn đòi Mỹ Diệm thi hành Hiệp định Genève tại sân Chợ Cũ. Rất tiếc, sáng hôm sau Hoà Hảo cho tay chân đi xô ngã cổng và gở khẩu hiệu dán theo đường, theo nhà. Riêng ngày 2/9/1955, lãnh đạo xã Tân Thuận Tây tổ chức hai cuộc mít tinh vào rạng sáng ở Chợ Cũ và Chợ mới Thông Lưu. Đồng chí Lê Tâm Sắc đọc diễn văn ôn lại sự kiện Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập ở Hà Nội, kêu gọi nhân dân trong xã đoàn kết đấu tranh đòi Mỹ Diệm thi hành Hiệp định Genève. Cuộc mít tinh kết thúc bằng hô vang các khẩu hiệu rồi kéo thành đoàn biểu tình hướng về thị trấn Cao Lãnh. Đến vàm Xép Lá, đoàn biểu tình mới quay về và giải tán.
Đầu năm 1956, sau khi lực lượng võ trang Hoà Hảo ra đầu hàng Diệm, chánh quyền Sài Gòn dần dần thiết lập bộ máy tề xã, ấp, thành lập dân vệ, cất đồn và trụ sở ở các xã. Chúng tổ chức “trưng cầu dân ý” nhằm hợp thức hoá việc truất phế Bảo Đại thân Pháp, để đưa Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống. chúng tôi được chỉ đạo của trên vận động nhân dân tẩy chay, không đi bỏ phiếu, nếu ai bị bắt lùa đi thì tìm cách huỷ hoại lá phiếu như bấm cho rách, bôi cỏ trầu… Để tránh địch khủng bố, các đồng chí lãnh đạo địa phương chỉ đạo anh Sáu Cường khắc con dấu Trưng cầu dân ý theo mẫu của địch để đóng vào góc trên giấy căn cước như địch đã đóng. Sáu Chưởng chọn một đoạn nhỏ cây vú sữa mài láng rồi theo mẫu khắc con dấu y như thật. Cơ sở ta gom giấy căn cước của các đồng chí và nhân dân không đi bỏ phiếu ở xã và các xã lân cận, đưa về cho Sáu Cường đóng con dấu rồi trả lại. Tới vụ bầu cử Quốc hội Sài Gòn, chúng ta cũng làm như vậy.
Lúc nầy, Mỹ Diệm tập trung chĩa mũi nhọn vào mục tiêu chống Cộng, ra sức bắt bớ, đánh đập, giam cầm những người kháng chiến cũ và những ai chúng tình nghi “có liên quan với Cộng sản”. Năm 1959, chúng ban hành luật 10/59 loại Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật. Nhà giam ở Cao Lãnh không đủ chỗ giam nhốt người bị bắt. Chúng phải xây thêm nhà giam mới to rộng hơn ở gần đình Hoà An. Cuộc đấu tranh không cân sức giữa ta và Mỹ Diệm ngày càng căng thẳng, khốc liệt, làm cho “tức nước vỡ bờ” dẫn đến cuộc nổi dậy - tấn công cuối năm 1959, phá ách kềm kẹp, mở vùng giải phóng, chuyển cách mạng miền Nam sang giai đoạn mới, giai đoạn chiến tranh cách mạng./.


Tác giả bài viết: Ban Biên tập
Nguồn tin: Tổng hợp

Hãy chia sẻ với người thân và bạn bè của bạn


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 
Xem Phim HayXem Phim Hay